Hà Hữu Nguyên

Vừng ơi, mở ra!

Lại thầy Văn Như Cương: Cảm ơn Bộ GD&ĐT đã tăng lương GV gấp 2,1 lầ

Posted by hatvungden on June 17, 2010

Theo thiển ý của tôi, tôi sẽ ăn vừng trừ bữa cho cả tháng và với tiền lương (tăng 2.1 lần đó) tôi thậm chí còn để dành mua xe máy nữa.

Tôi thiết tha mong thầy Văn Như Cương sống thử 1 tháng với mức lương như thầy tính toán xem (xem ra thầy tính toán chi tiêu còn giỏi hơn cả phụ nữ). Các giáo viên nghe thấy thầy phát biểu thế này buồn nôn cũng chẳng có gì mà nôn. Hết nói!

HHN

Dẫu sao cũng phải cám ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng lương cho chúng ta gấp 2,1 lần so với năm 2006. Thế là chúng ta có thể cố mà sống bằng đồng lương của chính mình, chứ không phải bằng lương của… ai khác.

Bee xin giới thiệu bài viết của thầy Văn Như Cương về vấn đề lương giáo viên hiện nay, thể hiện quan điểm riêng của một nhà giáo lâu năm về vấn đề này.

Thầy Văn Như Cương
Thầy Văn Như Cương

Mấy năm trước, các nhà giáo chúng ta rất phấn khởi khi  Bộ GD&ĐT  tuyên bố “năm 2010 giáo viên có thể sống bằng lương của mình”.  Tuy vậy, có người tin, có người không tin…

Bây giờ đã là giữa năm 2010. Vừa rồi đại biểu quốc hội đã chất vấn Bộ GD&ĐT về vấn đề này và Bộ đã trả lời: So với năm 2006 thì tiền lương giáo viên năm 2010 đã tăng lên gấp 2,1 lần. Ví dụ một Giáo viên tốt nghiệp Đại học ra trường năm 2010 có mức lương 2.306.000 đ. Nếu có thâm niên 10 năm thì mức lương là 3.300.000 đ.

Có giáo viên cho rằng với mức lương như thế cũng sống được, cũng có người cho rằng không sống được…

Thưa các thầy cô giáo mới ra trường!

Theo thiển ý của tôi thì các thầy cô hoàn toàn có thể sống bằng mức 2.306.000đ/tháng, nếu biết cách ăn tiêu cho khoa học, theo truyền thống thắt lưng buộc bụng…  Sợ các thầy cô còn trẻ quá chưa có kinh nghiệm quản lí quỹ lương của mình, nên tôi muốn các thầy cô đọc mấy lời khuyên sau đây của tôi, một nhà giáo già có kinh nghiệm lâu năm trong việc sống bằng lương thầy giáo:

TIN LIÊN QUAN

Trước hết, về nhu cầu ăn, chúng ta cần thấm nhuần câu cách ngôn tuyệt vời: “Ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Chúng ta có thể  ăn ngày ba bữa: buổi sáng 5 ngàn, buổi trưa 10 ngàn, buổi tối 10 ngàn. Thế là một ngày chi cho việc ăn là 25 ngàn, một tháng vị chi là  750.000 đ. Như thế cũng là khá lắm rồi, nếu chúng ta biết rằng nhiều nhà máy cho công nhân ăn bữa trưa một bát mì giá chỉ 5 ngàn mà thôi.

Tuyệt đối không nên uống bia, uống rượu vì rất tốn tiền, rất có hại cho sức khỏe, và nhất là rượu vào lời ra ảnh hưởng đến tư thế tác phong của thầy giáo. Tốt nhất là uống nước đun sôi để nguội, mát mẻ và vệ sinh lắm.

Sau chuyện ăn uống là chuyện ở. Cũng nên nhớ là  “ăn hết nhiều chứ ở thì hết bao nhiêu” để mà đừng chi quá nhiều cho chuyện ở. Nếu chưa có nhà ở thì cố nhiên tạm thời phải đi thuê, rồi ta sẽ góp tiền dần dần để mua nhà giá rẻ. Cố tìm mà thuê lấy một căn phòng bình dân với giá khoảng 1 triệu đồng một tháng, nhưng nên rủ thêm một thầy giáo cùng giới ở chung cho vui, cho có bạn cùng đàm đạo nhân tình thế sự. Vậy là ta chỉ tốn 500.000đ cho khoản ở.

Về phương tiện sinh hoạt và làm việc thì  cũng nên mua lấy cái quạt, nhưng đừng cho nó chạy nhiều quá, phải chú ý đến tiền điện. Khoản tivi thì có thể  xem nhờ nhà nào đó nếu người ta dễ tính và mến khách. Máy vi tính thì cố gắng chờ đợi, tôi tin chắc rằng đến một lúc nào đó, Bộ sẽ phát không cho thầy giáo mỗi người một cái (hôm nay đọc báo, thấy học sinh tiểu học ở Urugoay được phát không máy tính rồi). Còn khoản điều hòa nhiệt độ thì đừng nghĩ đến, đó là chuyện dành cho tương lai.  Nên cố gắng chỉ chi khoảng 100.000 đ cho tiền điện, tiền nước, tiền bột giặt, xà phòng tắm, xà phòng đánh răng…

Vấn đề trang phục nên hết sức giản dị, không nên chạy theo thời trang; nhà giáo thì phải ăn mặc đứng đắn để làm gương cho học sinh. Nên mặc quần áo mầu sẫm để đỡ tốn bột giặt. Giầy dép, áo vét , áo da… nên mua hàng Tàu giá rất rẻ so với hàng Việt.

Nếu chưa có xe máy thì đừng mua vội. Xe đắt mà giá xăng tăng  theo tốc độ lớn hơn lương tăng. Nên mua vé ô tô tháng để đi dạy, chỉ dăm chục chục ngàn một tháng là nhiều. Nếu không tiện thì nên mua một cái xe đạp Xuân Hòa, đi làm bằng xe đạp là cách tập thể dục tốt nhất.

Đừng mua sách, mua báo làm gì, đến trường tranh thủ vào thư viện mà đọc báo ngay ở đó, còn sách thì mượn về nhà mà đọc.

Đừng mua vé xem phim, xem kịch, mất thì giờ vào trò nhảm nhí, nhố nhăng… lại khổ vì nóng nực và đông người.

Có đám tang thì nên đi vì nghĩa tử là nghĩa tận, còn đám cưới thì cố mà trốn (lấy cớ là bận dạy, hoặc bận đi họp, hoặc phải về quê…). Một tháng mà đi dự vài ba tiệc cưới là tiêu đời rồi đó.

Một điều hết sức quan trọng là hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe bằng cách sống điều độ và thanh đạm. Cương quyết “nói không” với đau ốm, bệnh tật…, “nói không” với bệnh viện, với bác sĩ  với thuốc men…. Nếu không “nói không” như thế thì khó mà sống bằng lương.

Với cách phân bổ quỹ luơng như trên, tính toán lại tôi thấy mỗi tháng các thầy giáo mới ra trường sẽ phải chi không đến 2 triệu đồng, vẫn còn thừa ba đến bốn trăm ngàn đồng để gửi vào sổ tiết kiệm và mua vài cái vé sổ số…

Cố nhiên tính toán trên chỉ đúng đối với các thầy cô giáo chưa xây dựng gia đình, chưa có con cái, không phải nuôi bố mẹ già đau ốm, không phải giả tiền vay của nhà nước để học đại học, không phải đóng học phí cho em…

Đối với các trường hợp sau thì phải điều chỉnh cho phù hợp hoàn cảnh thực tế. Chẳng hạn ăn sáng thì có thể xơi vài củ khoai lang, bắp ngô luộc, hoặc cùng lắm là một gói mì ăn liền; hai bữa ăn trưa và ăn chiều có thể giảm từ 15 ngàn xuống 10 ngàn… có nghĩa là “liệu cơm mà gắp mắm”.

Dẫu sao cũng phải cám ơn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tăng lương cho chúng ta gấp 2,1 lần so với năm 2006. Thế là chúng ta có thể cố mà sống bằng đồng lương của chính mình, chứ không phải bằng lương của… ai khác.

Nhà giáo Văn Như Cương

17/06/2010 14:44:39

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bác Hợp đang nổ, mũi to bằng quả cà chua

Posted by hatvungden on May 20, 2010

Bác hợp nổ to ghê, lần này thì wordpress, google, yahoo chuẩn bị tìm cách vượt tường lửa nhé. Rồi nữa là quy định, blog nào ko thuộc go.vn thì phải đăng kí với bộ 4T, nếu ko sẽ là phạm pháp. Haha, khát khao của TT là đây: cấm tiệt báo tư nhân, cấm tiệt phản biện. Hoan hô TT và bộ TT-TT.

*********************************************

“Mạng Việt Nam sẵn sàng cạnh tranh lành mạnh”

“Mạng Việt Nam sẵn sàng cạnh tranh lành mạnh với mạng thế giới bằng con đường trí tuệ và hòa bình. Và nơi nào có văn hóa, nơi nào có giá trị, nơi nào có ích thì con người sẽ tìm đến”, Bộ trưởng Lê Doãn Hợp khẳng định.

Bộ trưởng Lê Doãn Hợp: “Không thể nói một quốc gia mạnh về CNTT mà lại không có mạng chủ lực của mình”.

Phát biểu tại buổi lễ ra mắt phiên bản thử nghiệm Go.vn – Mạng ViệtNam sáng nay 19/5, Bộ trưởng Lê Doãn Hợp nói: “Thủ tướng Chính phủ, Bộ TT&TT rất khao khát có một mạng xã hội Việt Nam. Khao khát này nay đã đạt được với sự kiện ra mắt Go.vn.”.

Lần đầu tiên, cộng đồng Internet Việt Nam có thể tiếp cận với một mạng xã hội hoàn toàn do người Việt Nam làm chủ từ hạ tầng kỹ thuật, nền tảng công nghệ đến nội dung cung cấp.

Việc ra mắt Mạng Việt Nam, theo Bộ trưởng Lê Doãn Hợp, là một bước đi trước để thực hiện chiến lược đưa Việt Nam trở thành một nước mạnh về CNTT. “Không thể nói một quốc gia mạnh về CNTT mà lại không có mạng chủ lực của mình”, bộ trưởng nói.

Bộ trưởng cũng nhấn mạnh: “Cuối cùng, không kém phần quan trọng là Mạng Việt Nam sẵn sàng cạnh tranh lành mạnh với mạng thế giới bằng con đường trí tuệ và hòa bình. Nhiều người nói rằng tôi chỉ đạo Mạng Việt Nam ra đời để “dẹp” các mạng khác như Google, Yahoo!. Nói như vậy là không đúng. Chúng ta sẵn sàng cạnh tranh lành mạnh. Và nơi nào có văn hóa, nơi nào có giá trị, nơi nào có ích thì con người sẽ tìm đến”.

Bộ trưởng Lê Doãn Hợp nhắc nhở: “Việc xây dựng Mạng Việt Namđã khó, nhưng nuôi dưỡng nó còn khó hơn nhiều. Ông cho biết sẽ đích thân theo sát, góp ý thường xuyên và hy vọng mọi người yêu quý mạng Việt Nam, đóng góp để Mạng Việt Nam phát triển nhanh, đúng hướng, trở thành một thương hiệu mạnh, lan tỏa tốt”.

Go.vn, hay goonline mang các chức năng chủ yếu là Giáo dục trực tuyến, Giải trí trực tuyến, và Giao tiếp trực tuyến, với nhiều nội dung và dịch vụ đặc trưng chưa có ở các mạng xã hội tại Việt Nam, như: goEdu (Học trực tuyến, Thi trực tuyến,…), hay mảng ICT (công nghệ thông tin-viễn thông),… nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu đa dạng của cộng đồng mạng ở Việt Nam.

Theo GoNews

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Chạy theo bài báo khoa học? (PGS Văn Như Cương)

Posted by hatvungden on April 28, 2010

Thầy  có bao giờ biết đến bài báo này ? Họ đang nói về thầy và hôm nay tôi đọc được bài của thầy trên nld. Chẳng hiểu thầy có ý định phân bua gì với thế hệ trẻ không?

Quả thực là khó cho rất nhiều người nghiên cứu ở Việt Nam, nhưng không có nghĩa là nên bao biện giải thích mãi. Hừm, mà thôi, ai đó lại vặn tôi: sao không làm nghiên cứu thực đi, tôi chắc sẽ sợ rúm vào luôn (thông thường xưa nay chỉ trích người khác dễ  hơn làm mà). Tôi sẽ cố gắng làm nghiên cứu thực, có kết quả thực và được ghi nhận trên lao động thực của mình.

Chúc thầy luôn mạnh khỏe, chăm lo những thế hệ học sinh phổ thông thật tốt để chúng sẽ là những sinh viên có đầu óc độc lập, sáng tạo như thầy mong muốn.

HHN.

Nhiệm vụ chủ yếu của các trường ĐH là đào tạo nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội. Nghiên cứu khoa học là hoạt động cần thiết để nâng cao hiệu quả đào tạo nhưng không thể đặt lên hàng đầu.

Nếu các giảng viên tập trung vào việc nghiên cứu khoa học, cố viết nhiều công trình có thể đăng ở các tạp chí quốc tế có uy tín, đi dự các hội nghị khoa học quốc tế… để được điểm tốt trong các đợt xét công nhận giáo sư (GS) và phó giáo sư (PGS) thì tôi e rằng hiệu quả đào tạo sẽ gặp vấn đề. Có người nói rằng GS của ta chỉ có một số ít người xứng tầm thế giới.

Điều đó có thể đúng và có một số sinh viên nói rằng: “Chúng em chỉ được nghe các GS không xứng tầm giảng bài, còn chưa bao giờ được nghe các GS xứng tầm”. Tôi trả lời rằng các GS xứng tầm thường giảng bài ở nước ngoài hoặc đi dự hội nghị, hội thảo nên… đành vậy. Thật là may, nếu tất cả các GS ta đều có tầm cỡ thế giới thì không biết lấy ai giảng bài cho sinh viên ta?
Lực lượng giảng viên trẻ hiện nay khá đông đảo, phần lớn có bằng thạc sĩ và thường đang cố gắng lấy bằng tiến sĩ (TS). Và đó cũng là lực lượng đứng lớp giảng bài. Khuyến khích họ làm TS, PGS, GS, nâng cao thành tích nghiên cứu khoa học là đúng nhưng cũng cần khuyến khích họ nâng cao thành tích giảng dạy, mang lại hiệu quả trong lĩnh vực đào tạo. Một số nhà khoa học đưa ra những con số thống kê để chứng tỏ tình hình nghiên cứu khoa học của ta là thấp kém, nào là số bài báo đăng trên tạp chí quốc tế chỉ bằng 1/3 so với Thái Lan, bằng 1/6 so với Singapore, trung bình mỗi GS mỗi năm chưa có đến một bài báo, số phát minh được cấp bằng sáng chế rất ít…

Điều đó là đúng để chúng ta thấy mình đang đứng ở vị trí nào về nghiên cứu khoa học. Nhưng từ đó không nên đi đến kết luận là các giảng viên ĐH cần phải tập trung cao độ nghiên cứu khoa học để có thể nâng số bài báo nhiều lần. Không nên khuyến khích việc có bài đăng trên tạp chí quốc tế bằng cách thưởng cho mỗi bài báo số tiền tính bằng USD, như quyết định của Bộ GD-ĐT. Chúng ta đã có một hệ thống viện nghiên cứu, mà nhiệm vụ hàng đầu là nghiên cứu khoa học và cũng khuyến khích họ tham gia giảng dạy ĐH.
Trong tình hình hiện nay, trường ĐH cần tập trung cao độ về đào tạo, khuyến khích việc nghiên cứu khoa học để đưa vào bài giảng những kiến thức hiện đại, cập nhật kết quả mới nhất… Ngay cả việc xem xét chức danh GS, PGS cũng phải phân biệt hai ngạch: ngạch nghiên cứu và ngạch giảng dạy. Trong ngạch giảng dạy cần xét đến những thành tích về đào tạo như: số lượng sinh viên được đào tạo, số các sách tham khảo, chuyên đề đã công bố, số luận văn cao học, luận văn TS đã hướng dẫn…

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Bằng tiến sĩ ở Nga giá bao nhiêu? (Lê Minh Tiến)

Posted by hatvungden on April 26, 2010

Trông người lại nghĩ đến ta. Dự án 20.000 tiến sĩ của Bộ Trưởng Nguyễn Thiện Nhân giờ đã chìm xuồng chưa nhỉ? Nhưng mà kể có danh TS Hà Hữu Nguyên thì cũng oai chứ bộ. Khó ghê.

HHN


TT – Đào tạo tiến sĩ (TS) tại Nga, đặc biệt là trong lĩnh vực toán và khoa học, lâu nay đã nhận được sự nể trọng của quốc tế và Nga được xem là một trong những nước đào tạo TS tốt nhất trên thế giới trong hai lĩnh vực này.

Thế nhưng, tình hình đã thay đổi một cách căn bản trong khoảng hai thập niên trở lại đây và hiện nay thế giới đang nghi ngờ về chất lượng đào tạo bậc học cao nhất này của Nga. Vì sao?

Công trình nghiên cứu của Ararat Osipian thuộc Đại học Vanderbilt (Mỹ) có tựa đề “Corruption in Russia’s doctoral education” (Tham nhũng trong đào tạo TS tại Nga) công bố cho thấy lý do chính là nạn tham nhũng đã xuất hiện tràn lan trong bậc đào tạo này khiến việc cấp phát bằng cấp ở bậc đào tạo này trở nên dễ dãi, do vậy chất lượng của luận án không còn được đảm bảo như trước.

Luận án: nở rộ như nấm sau mưa!

Việc đào tạo bậc TS của Nga hiện vẫn duy trì cấp đào tạo kandidat nauk (phó TS theo cách dịch của Việt Nam) và doktor nauk (TS). Đối với bậc PTS, luận án được yêu cầu là phải mang lại “một đóng góp quan trọng” cho hiểu biết ở một lĩnh vực khoa học đặc thù nào đó; còn với bậc TS, luận án phải mang lại “một đóng góp lớn trong giải quyết một vấn đề lý thuyết nào đó ở một lĩnh vực khoa học và buộc phải có khả năng ứng dụng và phải có khả năng lấp đầy một khoảng trống hiểu biết nào đó trong lĩnh vực nghiên cứu”.

Thế nhưng trong những năm gần đây, những đòi hỏi này đã bị lờ đi trong đào tạo. Chẳng hạn, nhiều luận án đã bị phát hiện là đạo văn ở nhiều mức độ khác nhau và rất nhiều người được cấp bằng nhưng không phải là người trực tiếp viết luận án mà thuê người khác viết! Chính vì vậy, người ta đang chứng kiến hiện tượng “lạm phát” bằng PTS, TS tại quốc gia này. Cụ thể: năm 2005 có tới 35.000 luận án được bảo vệ, trong đó có 30.000 luận án PTS và 5.000 luận án TS.

Trong giai đoạn từ 1993-2005, số bằng PTS được cấp phát trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau đã tăng từ 15.679 lên đến 30.116; trong đó riêng số bằng PTS thuộc lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn đã tăng gấp bốn lần, từ 4.362 lên 15.981. Theo Alexandr Visly – trưởng phòng công nghệ thông tin thuộc Thư viện quốc gia Nga, chỉ riêng năm 2005 Thư viện quốc gia Nga đã nhận tổng cộng 31.000 luận án, một con số kỷ lục từ trước tới nay.

Mỗi bằng cấp đều có giá khác nhau

Ở Nga hiện đã hình thành một lớp người chuyên viết luận án để kinh doanh và sự tồn tại của thị trường chợ đen chuyên buôn bán luận án này không còn là “bí mật quốc gia” nữa. Lý do lại không mấy khó hiểu: giới quan chức nhà nước, các chính trị gia, giới doanh nhân giàu có đang xem việc sở hữu bằng PTS, TS là một thứ mốt thời thượng.

Chính vì vậy, chuyện sở hữu loại bằng cấp cao nhất trong đào tạo nơi giới chính trị gia Nga là điều đang trở nên rất bình thường. Theo các con số thống kê chính thức, trong số 450 đại biểu thuộc Duma quốc gia Nga có đến 228 người sở hữu bằng PTS, TS, trong đó riêng bằng PTS là 143 và bằng TS là 85. Trớ trêu là Duma quốc gia Nga lại là nơi tập hợp rất nhiều tỉ phú và được xem là quốc hội giàu nhất thế giới.

Do luận án PTS, TS là một sản phẩm có thể mua và bán, mỗi giai đoạn trong quy trình làm luận án PTS hay TS đều được định giá một cách riêng lẻ và rất cụ thể. Theo thị trường giá cả năm 2006, những bài viết trước khi ra bảo vệ luận án (ứng viên phải có đủ số lượng bài viết đăng trên các tạp chí mới được ra bảo vệ luận án) có giá 150 USD/bài, giá thư mục tham khảo của luận án là 300 USD, giá của phần phân tích thực nghiệm, tùy theo mức độ phức tạp từ 300-1.000 USD.

Còn giá của bằng PTS và TS khác nhau, theo đó giá của bằng TS khoảng 50.000 USD tùy theo lĩnh vực và trường mà ứng viên sẽ bảo vệ. Chính vì vậy, có người đã nói việc chi trả cho luận án đang trở thành một thứ “văn hóa” thị trường khi ở đó mọi thứ đều có thể mua và bán.

Các con số cũng cho thấy giới chính trị gia, quan chức nhà nước thường không thích lấy bằng PTS hay TS thuộc các lĩnh vực toán, vật lý hay các khoa học tự nhiên khác. Có ba lý do để giải thích việc này: một là, việc lấy bằng trong các ngành khoa học xã hội – nhân văn đem lại uy tín nhiều hơn; hai là, ai cũng nghĩ rằng ít ra mình cũng biết một chút gì đó về kinh tế, chính trị, xã hội học hoặc triết học và ba là, việc lấy bằng trong lĩnh vực toán, vật lý hay hóa học sẽ không thuận lợi cho con đường thăng quan tiến chức bằng các ngành khoa học xã hội – nhân văn.

Nói chung, những bất cập như vậy trong đào tạo bậc cao tại Nga đã và đang gây ra những hậu quả như làm giảm lòng tin của quốc tế vào chất lượng đào tạo của quốc gia, cản trở đà phát triển kinh tế của đất nước và làm xói mòn lòng tin của người dân vào công lý và sự cố kết của quốc gia.

LÊ MINH TIẾN

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ăn mày dĩ vãng: Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng Hồ Chí Minh (Phạm Đình Trọng)

Posted by hatvungden on April 24, 2010

Nhà văn Phạm Đình Trọng là một trong những nguời lên tiếng rất sớm về Dự án Bauxite. Nay ông lại có những kiến giải về cách học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh sao cho thiết thực và thật sự có ích. Bau xite Việt Nam xin đăng lên để bạn đọc cùng tham khảo và bàn luận.

Bauxite Việt Nam

Sáng chủ nhật, tôi vừa mở máy vi tính mới viết được mấy dòng thì có chuông gọi cửa làm đứt mạch suy nghĩ. Xuống cầu thang ra mở cửa, thấy ông hàng xóm là đảng viên cùng sinh hoạt tổ đảng với tôi mà ít ngày trước tôi đã phải mất một buổi tối họp kiểm điểm ông về cái tật lãng nhách, rất không đáng có ở một đảng viên của đảng cách mạng, đảng chính trị là tật tối ngày nhậu nhẹt bét nhè, bê tha, đã kéo dài suốt nhiều năm của ông. Nay một người như thế đến bảo tôi nộp cho ông bản thu hoạch học tập đạo đức Hồ Chí Minh!

Cuộc học tập tư tưởng, làm theo đạo đức Hồ Chí Minh tiến hành rầm rộ suốt mấy năm nay trên cả nước đã bộc lộ rất rõ tính hình thức, phô trương, màu mè, tốn kém, đầy sự áp đặt duy ý chí, đầy tính tôn giáo tụng niệm, thể hiện cung cách làm công tác tư tưởng theo lối mòn xưa cũ, đã quá lạc hậu trong thời công nghệ thông tin đã đi vào từng gia đình, đã đến với từng cá nhân, trong thời kinh tế thị trường quyết liệt, nghiệt ngã, cuộc sống đã trở về với những giá trị thiết thực, con người phải đối mặt với một thực tế phũ phàng của một xã hội tiêu dùng, xã hội bị chi phối, phân hóa quyết liệt bởi vật chất! Nhìn ông đảng viên nát rượu đến đôn đốc tôi nộp bản thu hoạch học tập đạo đức Hồ Chí Minh, tôi lại nghĩ đến những ông quan tham nhũng có mặt ở khắp nơi, ở mọi cấp, những người đang đôn đáo phát động và thành kính học tập đạo đức Hồ Chí Minh, những diễn viên đang diễn vở kịch học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Không, tôi không thể tham gia vở diễn ấy. Chỉ chứng kiến vở diễn tôi đã bứt rứt không yên làm sao tôi có thể tham gia cùng họ được! Tôi nói với ông đảng viên nát rượu: Nhờ anh báo cáo rằng tôi không làm bản thu hoạch cũng như tôi đã không đi nghe buổi lên lớp về đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ủy phường 15 quận Tân Bình tổ chức.

1. Mỗi người dù vĩ đại đến đâu cũng chỉ có một giai đoạn lịch sử nhất định

Tôi rất kính trọng nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh. Tôi đánh giá cao vai trò lịch sử của Hồ Chí Minh cũng như tôi đánh giá cao tư tưởng nhân dân, đạo đức yêu nước, giản dị, khiêm nhường, gần dân của Hồ Chí Minh. Nhưng Hồ Chí Minh gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, gắn liền với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại giải phóng dân tộc, thời đại giành độc lập dân tộc. Thời đại cách mạng giải phóng dân tộc đã qua. Việt Nam cũng như cả thế giới thứ ba vừa giành được độc lập đã bước vào thời đại mới, thời đại phát triển kinh tế, chăm lo cuộc sống riêng tư của mỗi người, mỗi nhà, nỗ lực phấn đấu vì sự phồn vinh, giàu mạnh của mỗi dân tộc.

Thời đấu tranh cách mạng giành độc lập, một dân tộc nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu phải chiến đấu với kẻ thù xâm lược giàu có, hùng mạnh, có vũ khí hiện đại thì vũ khí vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh to lớn cho dân tộc nhỏ bé là ý chí, tinh thần quả cảm, là khối đoàn kết dân tộc muôn người như một xả thân vì nghĩa lớn độc lập dân tộc.

Trong cuộc chiến đấu giành độc lập, cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân phải gác sang một bên, không được quan tâm nhìn nhận. Chỉ có sự sống còn của cả dân tộc mới là nỗi đau đáu của mọi con tim. Cuộc sống cá nhân phải hi sinh. Ý chí của cá nhân cũng là ý chí của cả dân tộc. Để có mặt được trong cuộc sống đó, con người phải sống khác bình thường, sống bằng lí trí, niềm tin. Đó là không gian linh thiêng để những con người huyền thoại xuất hiện. Hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn con người Việt Nam huyền thoại có tên và không tên đã xuất hiện trong cuộc chiến tranh huyền thoại giải phóng dân tộc suốt ba mươi năm qua. Hồ Chi Minh là con người huyền thoại lớn nhất trong những con người Việt Nam huyền thoại đó. Nhưng con người huyền thoại phải đặt trong không gian huyền thoại. Hay nói cách khác, chỉ có không gian huyền thoại mới tạo ra con người huyền thoại.

Trở về cuộc sống đời thường, trở về với cuộc sống cá nhân riêng tư, với lo toan cơm ăn, áo mặc, sinh con đẻ cái, với đố kị, bon chen, không gian huyền thoại không còn nữa. Không gian huyền thoại càng không thể có trong cuộc sống có quá nhiều chụp giựt, lừa lọc, bạo lực, kẻ mạnh quyền mạnh thế ức hiếp người thân cô thế yếu. Đưa con người huyền thoại Hồ Chí Minh vào cuộc sống chụp giựt, lừa đảo, hỗn loạn, nhâng nháo ấy là sự lạc lõng thảm hại!

Vị lãnh tụ ấy không tự nhiên mà có. Chính khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân đã tô vẽ và tạo dựng lên vị lãnh tụ thiêng liêng ấy.

Một con người bằng xương bằng thịt, một con người thực sự là người dù vĩ đại, kiệt xuất, cao đẹp đến đâu cũng vẫn có những hạn chế, những khiếm khuyết, có cả những mềm yếu, ngã lòng. Lại càng không thể tránh được những ham muốn, đòi hỏi bình thường của con người bình thường. Cuộc chiến đấu cam go của dân tộc nhỏ bé chống lại đội quân xâm lược khổng lồ, dân tộc ấy cần có ý chí, tinh thần quả cảm, lại càng cần có lãnh tụ thiêng liêng tập hợp được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc. Vị lãnh tụ ấy không tự nhiên mà có. Chính khát vọng giải phóng dân tộc của nhân dân đã tô vẽ và tạo dựng lên vị lãnh tụ thiêng liêng ấy. Huy động lịch sử, văn hóa, nhân dân còn huy động cả thần linh để thần thánh hóa lãnh tụ của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Chấm mỡ viết chữ lên lá cây để kiến gặm theo vết mỡ tạo thành hàng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần”. Lá cây mang hàng chữ theo suối nhỏ chảy ra sông lớn, phát tán rộng rãi khắp trong nhân dân. Hàng chữ trên lá cây trở thành thần bí thiêng liêng, trở thành lời thần linh mách bảo người dân rằng Lê Lợi, Nguyễn Trãi mang mệnh Trời dựng cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước. Vị hào trưởng nông dân nơi góc rừng heo hút Lam Sơn được thần thánh hóa đã trở thành trung tâm tập hợp sức mạnh đoàn kết dân tộc đánh đuổi quân Minh giành độc lập.

Ngay sau ngày 2.9.1945, hầu hết người dân Việt Nam vẫn ngơ ngác chưa biết Hồ Chí Minh là ai! Thù trong đe dọa, giặc ngoài lăm le, nền độc lập non trẻ đang ngàn cân treo trên sợi tóc. Tình thế ấy đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín tập hợp sức mạnh nhân dân bảo vệ độc lập. Hồ Chí Minh liền tự tay viết tập sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch và kí tên người viết là Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện kể tưởng như chân thực nhưng vẫn mang không khí huyền thoại, mang cảm hứng anh hùng ca. Trong tập sách đó cũng chính Hồ Chí Minh tự nhận là Cha già Dân tộc! Từ đó những bài hát Lãnh tụ ca của các nhạc sĩ, những tranh, tượng Cha già Dân tộc Hồ Chí Minh của các họa sĩ, nhà điêu khắc, những chuyện kể về Bác Hồ kính yêu của các nhà văn, các nhà cách mạng, các nhà văn hóa, trí thức, của cả đông đảo quần chúng công nông binh đều với cảm hứng anh hùng ca, với tình cảm thành kính thiêng liêng càng thần thánh hóa Hồ Chí Minh đậm đặc hơn. Những việc làm đó là rất cần thiết khi đang phải chiến đấu gay go với kẻ thù xâm lược. Nếu không có tình cảm thiêng liêng dành cho Hồ Chí Minh thì không có chín phút lẫm liệt đi vào lịch sử của Nguyễn Văn Trỗi. Đứng trên pháp trường, trước họng súng hành quyết, Nguyễn Văn Trỗi giật tấm vải đen bịt mắt, ưỡn ngực hô ba lần Hồ Chí Minh muôn năm trước khi bị loạt đạn xé nát ngực!

Trong đấu tranh cách mạng và trong những cuộc chiến tranh không cân sức vừa qua, đồng bào chiến sĩ ta luôn phải đối mặt với cái chết và mỗi người luôn sẵn sàng nhận lấy cái chết vì sự sống còn của dân tộc, của Tổ quốc. Năm 1944, chiến sĩ du kích Ba Tơ hô: Hi sinh vì Tổ quốc. Năm 1946, chiến sĩ cảm tử Thủ đô ôm bom ba càng lao vào xe tăng giặc Pháp hô: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Những tiếng hô ấy âm vang trong suốt ba mươi năm chiến tranh giữ nước. Trong sự xả thân cứu nước đó, yếu tố tinh thần là quyết định. Truyền thống dân tộc, không gian huyền thoại của cuộc kháng chiến, gương anh hùng dũng sĩ và nhất là tình cảm thiêng liêng đậm màu tôn giáo giành cho lãnh tụ thần thánh Hồ Chí Minh làm nên tinh thần đó.

Trở về cuộc sống làm ăn đời thường, hàng ngày hàng giờ không còn đối mặt với cái chết nữa mà phải đối mặt với những bài toán kinh tế. Đời sống riêng tư mỗi người, đời sống kinh tế gia đình, đời sống kinh tế quốc gia đều đặt ra những bài toán cụ thể, thiết thực của đời thường. Trước những bài toán ấy, yếu tố tinh thần không còn quyết định nữa mà quyết định là yếu tố thực tế, yếu tố tỉnh táo, trí tuệ, yếu tố nắm bắt đầy đủ, kịp thời thông tin. Chỉ thu hẹp trong cái tình cảm hai nước cùng là cộng sản phải đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chỉ biết có tinh thần quốc tế vô sản, không có thực tế của đời sống kinh tế khắc nghiệt, thiếu sự tỉnh táo lạnh lùng của người làm kinh tế, lại càng thiếu trí tuệ của khoa học công nghệ, chúng ta đã kí hợp đồng với Trung Quốc hợp tác khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, đẩy đất nước ta vào những thảm họa khủng khiếp và bi thảm. Làm kinh tế chỉ bằng tinh thần và tình cảm nguy hại như vậy đó! Học tập đạo đức Hồ Chí Minh hoàn toàn chỉ là tinh thần và tình cảm!

Hồ Chí Minh có những phẩm chất đáng quí của thời nghèo khổ thắt lưng buộc bụng đánh giặc. Chiếc chiếu cói trải giường ngủ của Hồ Chí Minh trên nhà sàn đã cũ rách nhưng Hồ Chí Minh không cho thay. Nó mới rách một chỗ mà bỏ cả chiếc chiếu thì phí quá! Nói vậy và Hồ Chí Minh lấy kim chỉ tự khâu chỗ rách lại! Nhưng ngày nay ngân sách nhà nước vừa phải đổ ra hàng ngàn tỉ đồng để kích cầu, kích thích tiêu dùng để phát triển sản xuất. Cái chiếu cói cũng như mọi hàng hóa khác đều có giới hạn sử dụng. Giới hạn sử dụng ấy được ngôn ngữ quốc tế hóa là “đát”. Hết đát thì phải bỏ, thay cái khác. Hàng hóa có tiêu thụ được, sản xuất mới phát triển. Một thí dụ để thấy một phẩm chất rất đáng quí của Hồ Chí Minh ngày nào nay cũng không thể “học tập” được nữa!

Nhân vật lịch sử dù vĩ đại đến đâu cũng đều có đát. Hết đát, hết thời đại của mình thì lui về quá vãng, lui về thời của mình để thời đại khác xuất hiện, để nhân vật lịch sử khác thay thế. Ồn ào lôi nhân vật lịch sử từ quá vãng ra hiện tại là việc làm trái tự nhiên, trái qui luật, là phủ nhận hiện tại. Với công tác tư tưởng, đó là sự yếu kém, không biết làm việc, đành lôi bài bản cũ ra xào xáo lại!

2. Sự chối bỏ tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Tư duy phương Tây coi trọng cái lí. Những gì của tự nhiên không phù hợp với con người đều là bất hợp lí, đều cần cải tạo. Phương Tây đặt con người đối mặt với tự nhiên, con người luôn lăm le cải tạo tự nhiên. Tư duy phương Đông hướng vào cái Tâm. “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài” (Nguyễn Du). Coi tự nhiên cũng như con người, đều là chủ thể thế giới, triết lí phương Đông không đẩy con người đối lập với tự nhiên mà đòi hỏi con người sống hòa thuận với tự nhiên. Ngôi nhà sàn nhỏ bé của Hồ Chí Minh núp trong cây xanh, soi bóng xuống hồ cá trong rừng cây xao xác gió ở Phủ Chủ tịch giữa Hà Nội là cách sống hòa vào thiên nhiên, là tư tưởng triết lí phương Đông của Hồ Chí Minh. Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người. Hồ Chí Minh nhắc lại lời của nhà hiền triết phương Đông như vậy và đi đâu thăm hỏi đồng bào chiến sĩ Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở việc trồng cây không phải chỉ vì lợi ích mười năm sau được hái quả, thu hoạch gỗ mà còn vì cây xanh là thiên nhiên, là màu xanh vĩnh hằng của sự sống.

Tư tưởng lớn, xuyên suốt, nhất quán trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh là tư tưởng Nhân dân. Với tư tưởng Nhân dân, Hồ Chí Minh dựng lên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước với những tiêu chí thiết thực, đáp ứng nỗi khát khao Dân chủ cháy bỏng của Nhân dân. Với tư tưởng Nhân dân, Hồ Chí Minh đã xây dựng lên bản Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đưa Nhân dân lên chủ thể xã hội. Với tư tưởng Nhân dân, Hồ Chí Minh đã đổi tên đảng Cộng sản Đông Dương huyễn hoặc mang những tham vọng viển vông thành đảng Lao động Việt Nam bình dị, gần gũi với Dân. Khi buộc phải tiến hành chiến tranh bảo vệ nền độc lập thì cuộc chiến tranh do Hồ Chí Minh phát động cũng là cuộc chiến tranh Nhân dân, dựa vào Nhân dân tiến hành chiến tranh giữ nước.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bình dị vậy thôi. Những người tự nhận là học trò gần gũi của Hồ Chí Minh, luôn ra rả nói học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhưng hoàn toàn làm trái với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, hoàn toàn chối bỏ, phủ nhận tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bình dị vậy thôi. Những người tự nhận là học trò gần gũi của Hồ Chí Minh, luôn ra rả nói học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhưng hoàn toàn làm trái với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, hoàn toàn chối bỏ, phủ nhận tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Với triết lí phương Đông, con người sống chết đều hòa vào thiên nhiên, Hồ Chí Minh viết rõ ràng trong di chúc đưa tro xác Hồ Chí Minh về với đất đai. Với tư tưởng Nhân dân, Hồ Chí Minh không chấp nhận hoang phí tiền bạc của Dân. Khi sống, Hồ Chí Minh cần kiệm, giản dị, sinh hoạt như người dân thường. Cả đời làm Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh chỉ có hai kiểu trang phục, bộ quần áo nâu nông dân và bộ quần áo ka ki cán bộ như mọi cán bộ bình thường. Cơm dưa cà đạm bạc. Chiếc ô tô của Chủ tịch nước chỉ là ô tô thông thường đã chạy hơn mười năm Hồ Chí Minh vẫn không cho đổi xe mới… Khi chết, Hồ Chí Minh chỉ mong muốn tro xác về với đất đai cả ba miền đất nước. Nơi Hồ Chí Minh về với đất chỉ cần mái chòi đơn sơ trên đồi cây mang màu xanh bất tận của thiên nhiên đất nước. Hồ Chí Minh ngăn cấm không cho sử dụng tốn kém tiền bạc của Dân cho cái chết của Hồ Chí Minh. Mong muốn giản dị về với đất đai của Hồ Chí Minh đã không được thực hiện, những người ra rả học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn đổ không thương xót số tiền khổng lồ của Dân để xây lăng mộ, duy trì bộ máy đồ sộ, cả một Bộ Tư lệnh lăng để bảo quản thi hài, quản lý lăng mộ Hồ Chí Minh! Cho đến nay, cả đến Quốc hội của Dân cũng không được biết số tiền khổng lồ đó là bao nhiêu!

Điều bất nhẫn với Dân và xúc phạm đạo đức Hồ Chí Minh hơn nữa là nhà nước đổ số tiền khổng lồ ra xây dựng và duy trì lăng Hồ Chí Minh khi hơn mười triệu Dân miền Bắc đang đói lay đói lắt, trẻ thơ không đủ cơm ăn, người bệnh không có viên thuốc uống, người nông dân thu hoạch lúa, đóng thuế rồi chỉ còn bữa cháo bữa rau cầm hơi!

Trong đoàn nhà văn Việt Nam sang Ấn Độ tham dự một hoạt động văn chương quốc tế ở thành phố Kolkata, lúc vui chuyện với các bạn Ấn Độ, tôi nhắc đến việc Ấn Độ đã trở thành cường quốc nguyên tử, tưởng các bạn Ấn Độ sẽ tự hào lắm. Nhưng tôi thấy mọi người đều im lặng, vẻ mặt tư lự rồi nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Chàm đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Ấn Độ – Việt Nam (Indo – Vietnam Solidarity Committee), ông Geetesh Sharma nói: Để có nguyên tử, cho đến hôm nay hơn năm mươi phần trăm dân số Ấn Độ còn phải sống trong nghèo khổ và những khu nhà ổ chuột cứ lan rộng khắp đất nước Ấn Độ! Nghe người bạn thân thiết của Việt Nam nói vậy tôi lại thầm so sánh: Hơn năm mươi phần trăm dân số sống trong nghèo khổ để Ấn Độ có nguyên tử vẫn còn hơn là hơn mười triệu dân Việt Nam phải sống trong nghèo khổ để có lăng mộ Hồ Chí Minh! Đó là điều trái với đạo đức Hồ Chí Minh, là sự phỉ báng tư tưởng Nhân dân của Hồ Chí Minh!

Làm trái tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không phải là cá biệt mà là việc làm có tính toán, có hệ thống từ nhỏ đến lớn, từ chi tiết đến đại thể, từ sự việc cụ thể đến vấn đề khái quát, có sự thống nhất của nhiều thế hệ lãnh đạo kế tiếp sau Hồ Chí Minh.

Nhà nước Dân chủ là khát vọng của mọi thân phận người Dân nước Việt, là xu thế của thời đại. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mở ra thời đại Dân chủ hóa cho cả thế giới thứ ba. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi bảo vệ thành công nền Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kích hoạt cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trở thành dòng thác cách mạng. Vì thế tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sự ngưỡng vọng của thế giới, là niềm tự hào to lớn của mọi người dân Việt Nam. Cho đến nay tiến trình dân chủ hóa vẫn đang diễn ra trên toàn thế giới. Ở nước ta, tiến trình dân chủ hóa vẫn còn ở chặng khởi đầu, còn nhiều dò dẫm và trở ngại. Dân chủ vẫn đang là nỗi thèm khát và là nguồn cổ vũ mạnh mẽ người dân đi tới, vượt qua mọi trở ngại, giành lấy một nền dân chủ thực sự và đầy đủ. Thế mà tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mang tư tưởng Dân chủ của Hồ Chí Minh, mang khát vọng Dân chủ của cả dân tộc Việt Nam đã bị những người luôn cao giọng học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh loại bỏ thẳng thừng để thay thế bẳng tên gọi xa lạ, ngoại lai: Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

Trong khái niệm, trong ý thức, trong tình cảm mọi người dân Việt Nam, tiếng gọi Việt Nam bao giờ cũng phải đưa lên trên cùng. Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam! Ôi nước Việt yêu dấu ngàn năm! Tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thân thiết như máu thịt chính là do đáp ứng tình cảm đó. Nay một ngôn từ xa lạ, xã hội chủ nghĩa, ngôn từ chỉ gợi lên những kí ức đau buồn của cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, của những cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt triền miên, trở thành tên nước Việt và tên gọi Việt Nam thân yêu như tên người Mẹ hiền, như tên người thương đã bị chìm khuất, bị đè bẹp, bị đẩy xuống cuối cùng trong chuỗi ngôn từ lạnh lùng, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

Thể chế Dân chủ cần thiết cho người dân Việt Nam như khí trời cần thiết cho sự sống. Thể chế ấy bị vất bỏ để thay thế bằng khái niệm mơ hồ, viển vông, không có thật, khái niệm chỉ có trong ảo thuyết. Đó là sự chối bỏ phũ phàng tư tưởng Hồ Chí Minh!

Thể chế Dân chủ cần thiết cho người dân Việt Nam như khí trời cần thiết cho sự sống. Thể chế ấy bị vất bỏ để thay thế bằng khái niệm mơ hồ, viển vông, không có thật, khái niệm chỉ có trong ảo thuyết. Đó là sự chối bỏ phũ phàng tư tưởng Hồ Chí Minh!

Chính đảng cách mạng Hồ Chí Minh dựng lên là sự tập hợp từ những nhóm cộng sản Việt Nam hình thành trong thời kì lây lan của phong trào cộng sản thế giới. Vì thế chính đảng ấy ban đầu mang tên cộng sản, mang dấu ấn hoàn cảnh lịch sử ra đời. Nhưng đến năm 1951, khi cách mạng Việt Nam đã lớn mạnh, cách mạng đã giành được quyền chủ động và thế phản công trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, đang tiến tới ngày giải phóng đất nước, Hồ Chí Minh liền đổi tên đảng là đảng Lao động Việt Nam. Tuy vẫn phải giữ liên hệ chặt chẽ với các đảng cộng sản và các nước cộng sản để nhận sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng tên đảng Lao động Việt Nam đã bộc lộ rất rõ tư tưởng Dân tộc, tư tưởng hướng nội của Hồ Chí Minh. Khi đất nước đã được hoàn toàn giải phóng, chúng ta đã thoát khỏi thân phận là lực lượng xung kích phải đứng ở mũi nhọn trong cuộc đối kháng ý thức hệ thế giới là khi chúng ta càng phải hướng nội, càng phải nêu cao tư tưởng Dân tộc của Hồ Chí Minh để hòa giải, hòa hợp dân tộc, dồn sức xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Nhưng thế hệ lãnh đạo kế cận Hồ Chí Minh tự nhận là những học trò gần gũi nhất của Hồ Chí Minh lại tráo trở với tư tưởng Hồ Chí Minh đã thay tên đảng Lao động Việt Nam của Hồ Chí Minh bằng tên đảng Cộng sản Việt Nam, một tên gọi đầy tính băng đảng quốc tế! Phủ nhận tên đảng Lao động Việt Nam mang văn hóa Việt Nam coi trọng người lao động, mang tâm lí, tính cách con người Việt Nam là phủ nhận bản sắc Việt Nam để đồng hóa Việt Nam với thế giới cộng sản chỉ nhìn nhận giai cấp!

Vất bỏ tư tưởng dân tộc, tư tưởng hướng nội của Hồ Chí Minh, vẫn say sưa quyết liệt với bạo lực chuyên chính vô sản, vẫn say sưa quyết liệt đối đầu ý thức hệ, lấy giai cấp trấn áp dân tộc, đưa đất nước đến hai thảm họa: Phá hoại khối đoàn kết dân tộc, tù đày, dằn mặt với những người con nước Việt ở phía bên kia ý thức hệ, bỏ phí một lực lượng lao động cao cấp vô cùng quí giá! Phá hoại tan hoang nền kinh tế miền Nam, một nền kinh tế tư bản cao hơn hẳn kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc!

Vất bỏ tư tưởng dân tộc, tư tưởng hướng nội của Hồ Chí Minh để hướng ngoại, vươn tới thế giới cộng sản khi thế giới cộng sản đang khủng hoảng toàn diện, đang thoái trào tan rã, đang lục đục gầm gừ năm bè bảy mối. Một lần nữa những người lãnh đạo Việt Nam ngây thơ, không đủ tầm lại đưa dân tộc Việt Nam trở thành vật hi sinh của thế giới cộng sản. Mâu thuẫn của thế giới cộng sản lại trút xuống đầu nhân dân Việt Nam, nhân dân Việt Nam lại phải hứng chịu cuộc chiến tranh đẫm máu ở biên giới phía Bắc kéo dài suốt mười năm, từ 1979 đến 1988. Đó là hậu quả dại dột tráo trở tư tưởng dân tộc của Hồ Chí Minh.

Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chi Minh soạn thảo được Quốc hội khóa I thông qua ngày 9.11.1946 đã cụ thể hóa tư tưởng Nhân dân của Hồ Chí Minh. Hiến pháp 1946 đã đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ lên vị trí chủ thể xã hội, trao cho Nhân dân toàn bộ quyền bính xã hội: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều 1, điều đầu tiên Hiến pháp 1946). Hiến pháp 1946 đã cụ thể hóa quyền lực nhân dân khi ghi rõ: Những điều thay đổi Hiến pháp khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70, điều cuối cùng Hiến pháp 1946). Nhưng những Hiến pháp ban hành sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, đã tước bỏ vị trí làm chủ của Nhân dân, tước bỏ quyền bính xã hội của Nhân dân, trao quyền làm chủ xã hội cho đảng Cộng sản, trao toàn bộ quyền bính xã hội cho đảng Cộng sản, một đảng nắm quyền thống trị xã hội bằng bạo lực chuyên chính vô sản, bằng trấn áp giai cấp. Điều 4 Hiến pháp 1980 ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội. Điều 4 Hiến pháp 1992 lại ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội! Chỉ một điều 4 của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đã tước đoạt toàn bộ quyền làm chủ xã hội của Nhân dân mà Hiến pháp 1946 của Hồ Chí Minh đã trao cho Nhân dân. Bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống, bao nhiêu xương máu đã đổ ra mới giành và giữ được độc lập. Nhưng nước có độc lập mà người Dân lại trở về thân phận trước năm 1945 khi đất nước còn nô lệ! Đó là nỗi cay đắng của Nhân dân khi tư tưởng Nhân dân của Hồ Chí Minh bị phản bội!

Những tư tưởng đạo đức cơ bản của Hồ Chí Minh đã bị chối bỏ thì việc rầm rộ học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có thực tâm?

3. Cuộc vận động làm điều giả dối

Phải nói thẳng rằng chính quyền nhà nước hiện nay là chính quyền tham nhũng. Chính quyền tham nhũng tạo ra luật pháp để tham nhũng. Luật để tham những rõ ràng nhất là luật Đất đai. Luật Đất đai ở điều 5 ghi: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu. Điều 7 lại ghi: Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai. Câu chữ lủng củng và diễn đạt cầu kì có thể rút gọn lại là: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí. Ruộng vườn mồ hôi xương máu của tổ tiên từ ngàn đời để lại bỗng thành sở hữu toàn dân! Cha chung không ai khóc, sở hữu toàn dân là vô chủ và quan tham thỏa sức vơ vét! Nhà nước quản lý nên quan chức nhà nước mặc sức cắm mốc thu hồi đất theo những tính toán vụ lợi của các quan. Thu hồi đất, phân lô chia chác cho các quan, chia cho vợ, con, họ hàng các quan. Thu hồi đất cho các dự án để ăn chặn tiền đền bù, ăn chênh lệch giữa giá đất đền bù và giá đất giao cho các dự án! Càng nhiều dự án thì các quan càng có nhiều tiền và dòng người dân khiếu kiện vì bị cướp đất, bị ăn chặn tiền đền bù càng nối dài theo năm tháng. Người nông dân mất đất phải phiêu bạt khắp nơi, từ vị trí làm chủ họ trở thành người đi làm thuê. Con gái ra thành phố làm tiếp viên cà phê đèn mờ, ra nước ngoài làm ô sin, làm nô lệ tình dục. Con trai đi bán sức lao động, làm thuê, làm mướn. Bần cùng và phẫn uất, có người trở thành trộm cướp. Có người già phải dắt cháu đi ăn xin! Chỉ mới vài ngày gần đây thôi, một cô bé ra TP HCM thi đại học phải nhịn đói tròn 3 ngày trong thời gian thi. Đó là trách nhiệm – nặng hơn nữa là tội ác – của ai nếu không là của những kẻ khề khà giảng giải đạo đức Hồ Chí Minh mà sau lưng lại là vô số “nhóm lợi ích” ôm hàng túi vàng?

Miệng hô hào chống tham nhũng nhưng chính quyền tham nhũng thì rất nương nhẹ, dửng dung với quốc nạn tham nhũng. Chính phủ nước ngoài cho ta vay vốn làm công trình. Công ty nước ngoài liền hối lộ quan chức ta để trúng thầu thi công công trình đó. Chính quyền nước ngoài đã đưa người hối lộ ra tòa án nhưng quan chức ta nhận hối lộ thì vẫn bình yên và chính quyền ta thì dửng dưng nói với nước ngoài: Cứ đưa chứng cứ ra, chúng tôi sẽ xử lí! Làm như hối lộ và nhận hối lộ chỉ là việc của mấy người nước ngoài! Bố đứng đầu cơ quan phát hành tiền bạc nhà nước, con liền lập công ti in tiền cho bố. Bao nhiêu bê bối, lình xình đã phơi bày ra nhưng vẫn được bỏ qua! Dù chế độ tiền lương đã được cải thiện nhiều nhưng nếu không tham nhũng thì đồng lương quan chức không thể dư dả đến mức quan chức ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh thì về vùng xa mua hàng chục hecta đất làm trang trại, về những nơi kì thú như Sóc Sơn, Ba Vì, Nha Trang, Mũi Né, Đà Lạt mua biệt thự làm chốn đi về nghỉ ngơi. Các quan tỉnh lẻ thì về Hà Nội, vào TP Hồ Chí Minh mua đất, mua nhà cho con lớn con nhỏ, mua biệt thự chờ ngày về hưu. Lớp quan chức này đã vớ bẫm về nghỉ, hạ cánh an toàn, lớp quan chức sau lại cất cánh bay theo đường bay làm giàu, bòn rút tiền bạc nhà nước, bóp nặn dân của lớp quan chức trước. Tất cả đều an toàn, tất cả đều vô sự trở thành sự khuyến khích tham nhũng, trở thành sự hấp dẫn của chiếc ghế quan chức và chiếc ghế quan chức trở thành đắt giá trong thị trường mua quan bán chức!

Chuyện tham nhũng của bộ máy nhà nước ta không sao kể xiết. Bộ máy nhà nước tham nhũng ấy lại cao giọng rao giảng đạo đức Hồ Chí Minh, lại ồn ào rầm rộ học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thì đó là sự giả dối vô liêm sỉ, một sự giả dối tự nhiên như không, không còn biết ngượng, thì đó là một màn kịch vụng về, trơ trẽn! Và cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành cuộc vận động làm điều giả dối! Đó là suy đồi thảm hại của đạo đức xã hội!

Bộ máy tham nhũng làm cho chính quyền suy yếu, nhân dân oán giận, lòng người li tán. Trong tình thế đó, đưa Hồ Chí Minh ra, đưa những năm tháng đánh giặc hào hùng ra, đưa sự hi sinh to lớn của đồng bào chiến sĩ ra để ru ngủ nhân dân quên đi những nhức nhối hiện tại, để chính quyền tham nhũng núp bóng, ăn theo vinh quang của quá khứ mà tồn tại. Đó là sự ăn mày dĩ vãng!

PĐT

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Nỗi ngán ngẩm thường ngày (Phạm Đình Trọng)

Posted by hatvungden on April 24, 2010

Đã thành thói quen, tối nào tôi cũng phải ngồi trước máy thu hình khi đến giờ có chương trình thời sự để nắm bắt những diễn biến của thế giới chung quanh trong ngày qua. Mỗi ngày có vài lần nạp năng lượng vật chất cho con người cơ thể thì cũng cần có vài lần nạp năng lượng tinh thần, năng lượng tư duy cho con người xã hội, con người văn hóa. Tiếp nhận thông tin thời sự chính là một lần nạp năng lượng tinh thần cho con người xã hội vậy.

Là nhà lãnh đạo cấp cao đương chức nên ông thường xuất hiện trên truyền hình trong các chương trình thời sự. Vì thế, hầu như ngày nào tôi cũng phải thấy ông! Đang chăm chú theo dõi thông tin về những sự việc dồn dập của cuộc sống sôi động, thấy ông xuất hiện, tôi ngán ngẩm quá phải nhìn đi chỗ khác hoặc bấm remote chuyển sang kênh thể thao, giải trí nước ngoài. Chỉ có cách ấy mới tránh được nỗi ngán ngẩm, còn chuyển sang kênh tất cả các đài trong nước thì đều thấy ông!

Ngán ngẩm vì trên gương mặt, trong dáng điệu, cử chỉ của ông, tôi nhận ra rất rõ hai điều: Một là sự mãn nguyện, hả hê trên gương mặt nhạt nhẽo, hời hợt mà đáng ra phải là sự chín chắn, sâu sắc, sự ưu tư, trăn trở. Hai là điệu bộ, dáng vẻ của ông bộc lộ rất rõ sự diễn xuất của một diễn viên tồi mà đáng ra ở con người ông chúng tôi phải nhận ra sự chân thành, tự nhiên!

Người dân đang gặp chồng chất khó khăn trong cuộc sống, chồng chất nhức nhối trong xã hội. Từ việc chữa bệnh khi ốm đau, từ giải quyết bất kì việc gì ở cơ quan công quyền đều phải phong bao tiền đút lót, đến việc đồng tiền mất giá, vật giá leo thang, từ việc đất đai đang sở hữu nhưng bất kì lúc nào cũng có thể bị ngang nhiên thu hồi, đồng tiền bồi thường đất đã rẻ mạt lại bị nhiều cấp xâu xúm ăn chặn, đến kỉ cương phép nước bị chính quan chức nhà nước chà đạp! Kỉ cương không còn, cái xấu, cái ác ngang nhiên lộng hành, cuộc sống bất an, thân phận dân đen vô cùng mỏng manh, bị muôn vàn nỗi đe dọa! Đến với người dân khốn khó ấy nhưng ở đâu, chỗ nào ông cũng cười làm duyên! Cái cười hả hê, thỏa mãn của người đã quá toại nguyện! Cái cười của người vô lo, vô nghĩ! Chỉ những người không thể lo, không thể nghĩ mới cười được như thế! Sức lo, sức nghĩ chưa vượt khỏi gia đình thì làm sao có sức lo, sức nghĩ cho dân, cho nước! Quả thực ông mới lo được cho con, cháu, dâu, rể của ông chứ ông chưa lo được cho thần dân của ông!

Lo cho cậu ấm nhà ông vào nhà Đỏ không xong, ông liền đưa bằng được cậu ấm vào nhà Vàng! Đưa cậu ấm vào thẳng nhà Đỏ không được thì ông tìm đường đi vòng, đưa cậu ấm về trị nhậm ở địa phương, rồi theo cơ cấu, cậu ấm sẽ nghiễm nhiên vào nhà Đỏ! Cố chạy cho cậu ấm vô danh có được cái ghế quyền lực để rồi biết đâu lại nối dõi ông! Nào có khác gì thời phong kiến thối nát “Con vua thì lại làm vua / Con sãi ở chùa lại quét lá đa!” Con vua nếu không làm vua cũng phải làm quan lớn dù đức tài chẳng hơn gì dân ngu và tất nhiên không thể bằng những người giỏi giang, lương thiện có rất nhiều trong dân nhưng không được sử dụng! Nhìn cách cố đấm ăn xôi đó của ông, người dân chúng tôi ngán ngẩm vì biết rằng không thể trông đợi gì ở một người lãnh đạo như vậy!

Trong thế giới Cộng sản, Stalin là nhà độc tài khét tiếng tn bạo. Thực hiện học thuyết chuyên chính vô sản bằng bàn tay sắt Stalin, hàng chục triệu người, phần lớn là những người ưu tú, quí tộc, trí thức, nghệ sĩ, chủ doanh nghiệp, chủ đất, nhà tư tưởng, những người lãnh đạo Cộng sản có tư tưởng, chính kiến khác biệt với Stalin đã bị Stalin thủ tiêu, đày đọa đến chết. Nhưng ứng xử của Stalin giữa riêng và chung, giữa gia đình và Tổ quốc thì đúng là ứng xử của nhà lãnh đạo quốc gia. Trong cuộc kháng chiến chống phát xít Đức bảo vệ Tổ quốc Xô viết, là người đứng đầu đảng cầm quyền, đứng đầu nhà nước, thống lĩnh quân đội, ông thừa sức đưa con cháu vào tháp ngà yên ổn và vinh thân nhưng ông không làm thế.

Ông vẫn để đứa con trai duy nhất nhập ngũ, cầm súng ra mặt trận làm nghĩa vụ công dân với đất nước như mọi công dân khác. Trung úy Hồng quân con trai Stalin bị quân Đức bắt và quân Đức ra giá đổi viên trung úy con trai Stalin lấy viên Thống chế Đức bị Hồng quân bắt. Nếu tầm suy nghĩ và tình cảm của ông đại nguyên soái Stalin không vượt ra khỏi gia đình thì ông sẽ mừng rú, đổi ngay! Đây chính là lúc đòi hỏi, thử thách vị trí người lãnh đạo quốc gia. Người lãnh đạo quốc gia phải đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích riêng tư. Thống chế là người chỉ huy hàng tập đoàn quân, hàng trăm ngàn binh lính, nắm giữ bí mật từ tổng hành dinh tới bí mật chiến dịch, có vai trò quyết định cả chiến lược, sách lược, đường lối chiến tranh, cục diện chiến tranh.

Trả cho kẻ thù một người như thế để nhận về một trung úy chỉ quản lí, chỉ huy một trung đội, một đại đội là cuộc đổi chác không tương xứng, quá thiệt thòi! Đặt lợi ích đất nước lên trên, Stalin đành để đứa con trai chết trong tay quân Đức, không chấp nhận cuộc đổi chác gây thiệt hại cho cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.

Một câu chuyện quá cũ nhưng vẫn còn nguyên giá trị về đạo đức của người lãnh đạo quốc gia. Từ giá trị đạo đức đó, nhìn vào các nhà lãnh đạo của ta, người dân càng thêm ngao ngán! Trong khi nhiều học trò con dân thường học rất giỏi nhưng phải bỏ dở việc học ở trung học, ở cổng trường đại học vì nhà nghèo, vì nhà nước không có chính sách thiết thực tìm kiếm và nuôi dưỡng tài năng thì con của hầu hết các vị lãnh đạo từ cấp bộ, cấp tỉnh trở lên, học hành chỉ làng nhàng hoặc yếu kém đều dễ dàng đi học nước ngoài, vào học ở các trường danh giá và đắt đỏ nhất thế giới mà tiền học mỗi năm nhiều hơn tiền lương cả năm của quan chức có con du học!

Học xong, những người trí tuệ làng nhàng và yếu kém đó về nước lại có sẵn những chiếc ghế nhung trong hệ thống quyền lực nhà nước chờ họ! Lại có thêm những bộ mặt hả hê, những miệng cười thỏa mãn trên những nỗi thống khổ chồng chất của nhân dân, trên những ung nhọt nhức nhối của xã hội!

Những giá trị giả được trọng dụng thì đương nhiên những giá trị thật, những hiền tài vô cùng quí báu và cần thiết cho đất nước bị ruồng bỏ, mai một! Đất nước phát triển ì ạch, ngày càng tụt lại sau những nước trước đây đã thua kém ta chính là do những tài năng bị bỏ phí, những giá trị giả mặc sức tung hoành thao túng đất nước, đưa đất nước đi từ sai lầm, đổ vỡ này đến sai lầm, đổ vỡ khác!
Tiêu cực xã hội tràn lan! Công việc thành ít, bại nhiều! Ở đâu cũng có giặc! Trong rừng sâu có giặc phá rừng, lâm tặc, phá tan hoang hàng hecta rừng! Trên đường lớn cuồn cuộn người xe, giữa ban ngày ban mặt vẫn nghênh ngang hoành hành một đám giặc áo vàng, cảnh tặc, cảnh sát áo vàng làm luật vòi tiền lái xe! Trong bệnh viện, ngoài giặc y, thầy thuốc làm tiền người bệnh, còn giặc thuốc, dược tặc, thầy thuốc ăn hoa hồng của người bán thuốc, nâng giá thuốc, móc túi người bệnh!

Đồng tiền hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ người nghèo bị quan chức xâu xúm ăn chặn! Hồ sơ thương binh, liệt sĩ cũng bị làm giả để rút ruột ngân sách nhà nước thì còn vô vàn mưu ma chước quỉ rút ruột tiền thuế của dân, thì còn vô vàn thứ giả dối, kể cả giả dối lương tâm!

Một người thầy dạy lịch sử ở đại học đã kí tên vào bản Kiến nghị đòi dừng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Nhưng khi cơ quan quyền lực chính trị trùm lên cả Quốc hội, trùm lên cả Chính phủ vẫn rắp tâm tiếp tục khai thác bô xít thì người thầy ấy lại leo lẻo phụ họa chính trị, xỉ vả những người đòi dừng dự án bô xít bằng những lời trơ trẽn và vô liêm sỉ: “Chủ trương khai thác bô xít đã có từ đại hội IX, có nghĩa là đã rất lâu và đã được cân nhắc, suy xét kĩ càng.”

Một số phần tử muốn chống phá công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta, đã mưu toan lợi dụng tung những tin đồn thất thiệt, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc hòng “diễn biến hòa bình” để phá vỡ ổn định của chúng ta…

Đa số người dân không hiểu tường tận sự thật của vấn đề nên dễ bị lợi dụng và bị kích động, đưa một chuyện riêng về kinh tế thành “nguy cơ” về chính trị, an ninh … Đảng lắng nghe và thấu hiểu ý kiến trí thức nhưng không có nghĩa bỏ qua việc một số người lợi dụng điều đó để xuyên tạc, chống phá!”

Ôi chao, một người thầy thản nhiên, công khai làm điều giả dối là tín hiệu báo động đỏ về sự suy đồi của đạo đức, của văn hóa! Nguyễn Trãi viết: “Khó bền, mạnh gắng, khôn ngay, khéo đầy”. Trước khó khăn thì bền chí. Trước trở lực mạnh thì gắng gỏi. Cái khôn ngoan là sự ngay thẳng. Cái khéo léo là sự đầy đặn. Đó là cốt cách, là thế ứng xử của con người Việt Nam truyền thống. Đó cũng là nhân nghĩa Việt Nam, là tinh hoa của văn hiến Việt Nam. Ngày nay giả dối đã thành lẽ sống, thành thế ứng xử xã hội thì dân tộc có bốn ngàn năm văn hiến đã trở nên thảm hại, nguy khốn về văn hóa rồi, đã trượt xuống đáy vực của sự tha hóa rồi! trước tình cảnh của dân tộc như vậy mà người lãnh đạo vẫn hơn hớn cười hả hê, thỏa mãn thì chúng tôi càng quá ngán ngẩm về cái tâm, cái tầm của người lãnh đạo đó!

Với cái tâm, cái tầm đó của người lãnh đạo nên chúng ta chẳng tiên liệu, lường trước được điều gì. Mọi sự cố, mọi tai họa xảy ra rồi mới biết, mới vội vã chạy theo giải quyết việc đã rồi! Với cái tâm, cái tầm đó, người lãnh đạo chỉ dùng được những giá trị giả! Những con người và sự việc ở Tổng cục II bộ Quốc phòng là minh chứng đau lòng về dùng giá trị giả! Với cái tâm, cái tầm đó, người lãnh đạo của ta vừa nhậm chức đã bị nước ngoài xỏ mũi dắt vào chương trình bô xít ma quỉ của họ!

Từ năm 2001, vừa ngồi vào ghế quyền lực, người lãnh đạo của ta đã kí tuyên bố chung với nước ngoài “Nhất trí sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô xít nhôm Đắc Nông”, đưa dân tộc ta vào vòng lệ thuộc nguy khốn được che đậy bằng từ “hợp tác”! Xỏ mũi được người lãnh đạo rồi, họ chẳng khó khăn gì trong việc làm cho cấp dưới phải lú lẫn chọn họ trúng thầu trong các dự án khai thác bô xít để họ đưa người vào ém quân, đặt căn cứ và Hán hóa vùng đất hiểm yếu nhất của cả bán đảo Đông Dương! Còn ta thì phải cắn răng vay nợ nước ngoài lấy vốn làm bô xít, sản phẩm làm ra bán rẻ cho họ, lợi họ hưởng, rủi ro ta gánh, lỗ ta chịu, thảm họa môi trường ta hứng!

Chẳng còn lo nghĩ được gì nên ông cứ vô tư cười khi tiếp xúc với công chúng và hồn nhiên diễn khi đứng trên diễn đàn! Ông uốn môi, tròn miệng khi đọc diễn văn, mắt lúng liếng đưa đẩy, tay huơ, tay khoát, giọng khi trầm khi bổng lúc nói chuyện, cố thể hiện một vai diễn sinh động, lôi cuốn! Nhưng ông càng cố diễn thì dân chúng càng ngán ngẩm!

Nhà chính trị nào cũng nhiều khi phải diễn.. Nhà chính trị có tầm thì vai diễn có nội dung thú vị, có tư tưởng sâu sắc. Đảng Lao động Việt Nam tiến hành đại hội III năm 1960 khi Liên Xô và Trung Quốc, hai nước Cộng sản đàn anh của Việt Nam, hai nguồn viện trợ vật chất và hỗ trợ tinh thần to lớn cho Việt Nam lại đang lục đục, chống đối nhau quyết liệt. Cả hệ thống truyền thông khổng lồ của nhà nước Trung Quốc ra rả kết tội Liên Xô là xét lại hiện đại, là phản bội chủ nghĩa Mác Lê nin. Nóng bỏng trên mặt trận tư tưởng, tuyên truyền. Nóng bỏng cả trên đất biên giới Xô – Trung.

Lúc đó đảng Lao động Việt Nam đã có nghị quyết 15, quyết định đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, đã mở đường mòn Trường Sơn đưa người và vũ khí vào miền Nam. Xung đột Xô – Trung là bất lợi rất lớn cho cách mạng Việt Nam. Đến dự buổi biểu diễn hòa nhạc do thanh niên Hà Nội tổ chức ở Bách Thảo chào mừng đại hội III đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu đảng Lao động Việt Nam, hai tay khoác hai vị khách đặc biệt: Mukhitdinov, trưởng đoàn đại biểu đảng Cộng sản Liên Xô và Lý Phú Xuân, trưởng đoàn đại biểu đảng Cộng sản Trung Quốc. Dẫn hai vị khách vào ghế ngồi cạnh nhau rồi Hồ Chí Minh bước lên sân khấu, cầm chiếc đũa chỉ huy từ tay nhạc trưởng, chỉ huy dàn nhạc hòa tấu bài Kết đoàn là bài hát rất phổ biến lúc đó.
Những chính khách từng trải có mặt ở Bách Thảo Hà Nội đêm đó đều biết rằng đó là vở diễn của Hồ Chí Minh nhưng ai cũng phải khâm phục sự thông minh, nhạy bén, sự ứng xử mau lẹ, tự nhiên, bất ngờ và thú vị của nhà chính trị từng trải Hồ Chí Minh. Vở diễn ứng tác đó là lời khuyên can hai nước Cộng sản hàng đầu phải đoàn kết lại như lời kêu gọi của người khai sinh ra chủ nghĩa Cộng sản: Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại!

Hoàn toàn khác với vai diễn trên sân khấu, vai diễn trong chính trị cũng như vai diễn trong điện ảnh phải tự nhiên như cuộc sống đang diễn ra, không thể lên gân, không thể khoa trương, không được để cho người xem nhận ra sự diễn. Phải diễn bằng sự từng trải cuộc đời, bằng sự nhạy cảm nghệ sĩ đối với diễn viên và bằng mẫn cảm chính trị đối với nhà chính trị. Diễn để bộc lộ tư tưởng, triết lí muốn gửi gắm vào sự việc, vào cuộc sống. Tổng thống Mĩ Barack Obama cùng phó Tổng thống buổi trưa ra ăn cơm bụi ở đầu phố với dân chúng cũng là vai diễn của nhà chính trị Obama đấy. Với vai diễn đó, Obama muốn bộc lộ triết lí đưa chính trị về với đời thường, chính trị cần gần gũi với dân chúng của ông Tổng thống Mĩ thế hệ mới. Đó cũng là triết lí bình thường hóa, thân thiện hóa mọi ngăn cách, mọi căng thẳng do thứ chính trị phe nhóm, cực đoan tạo ra.

Không có tư tưởng triết lí gì thì đành diễn bằng điệu bộ. Đó là cách diễn của anh hề, của diễn viên tấu hài chứ không phải của nhà chính trị chuyên nghiệp, không thể là chính khách quốc gia! Chờ đợi để nhận ra tư tưởng triết lí, nhận ra vóc dáng quốc gia của người lãnh đạo đất nước nhưng tôi chỉ được thấy một vai diễn tấu hài thì còn gì ngao ngán hơn!

Posted in Uncategorized | 4 Comments »

Chuyện nọ xọ chuyện kia (Taxi810)

Posted by hatvungden on April 24, 2010

Dưới đây là tổng hợp chưa đầy đủ về loạt bài “Chuyện nọ xọ chuyện kia” lừng danh trên x-cafevn.org. Tác giả viết những chuyện hết sức giản dị nhưng lôi cuốn lạ kì. Vì viết trên diễn đàn x-cafevn nên trong con mắt của những người thích “quan trọng hóa vấn đề”, hẳn chuyện này sẽ dễ bị gán với “màu sắc chính trị”. Nhưng mà chính trị là gì cơ chứ? Cứ chỉ ra những cái xấu trong xã hội (phần nhiều lại có nguyên nhân dính dáng đến những vua quan thời hiện đại) và nói tới ước mơ về cái đẹp là “nhạy cảm” cả sao? Dù tác giả có mục tiêu gì cần hướng tới thì có một điều hiển nhiên là….nó (nhưng câu chuyện cảm động) đã được viết ra, đã làm cho nhiều độc giả vui, buồn, suy tư và thậm chí làm cho tôi đây có ước mơ viết được những bài tương tự nữa. Xin cảm ơn anh Taxi810, và hi vọng một ngày những tuyển tập này sẽ được in thành sách ( chắc chắn chẳng dưới cơ “Ký ức vụn” của Bọ Lập chút nào).

Những bài dưới đây được copy lại từ x-cafevn và rải rác trên Internet nên hơi lộn xộn về thời gian, thứ tự. Nhưng mà chắc cũng chẳng sao vì vốn dĩ nó là “chuyện nọ xọ chuyện kia”  nên đọc theo thứ tự nào mà chả được.


26-03-2010 03:00 PM

Xin chào tất cả các bác! Nói thật, tuy là mạng ảo nhưng gặp lại những nick quen thuộc tôi thực sự thấy vui lắm.

Nói chuyện nhà quê thì nhiều chuyện để nói lắm các bác ạ. Như có lần tôi đã nói, những câu chuyện vụn vặt trong cuộc sống cứ nối tiếp nhau mà dài như một dòng sông vậy.

Các cụ mình có câu “ăn Tết quanh năm cũng không bằng ngày rằm tháng Giêng”. Ở thành phố giờ đây người ta ăn Tết qua loa cho xong rồi quên luôn ngày rằm tháng Giêng, nhưng ở nhà quê thì vẫn ăn Tết tưng bừng áo xanh áo đỏ, pháo đùng pháo cối vẫn đì đẹt nổ cho đến tận rằm tháng Giêng thì thôi. Đặc biệt ở làng tôi còn có cái lệ ăn 30 Tết cùng. Các cụ kể rằng ngày xưa, thời Pháp thuộc, khi cận kề ngày Tết thì giặc Pháp đi càn quét Việt Minh, càn quét đến đâu là cướp bóc hãm hiếp đến đó. Các cụ hãi lắm, dắt díu con cháu chạy mãi tận vào trong núi Mường để trốn, nhà cửa ruộng vườn bỏ hết. Những ngày Tết năm đó phải ăn ở cùng với người dân tộc, có gì ăn nấy, nỗi hoang mang sợ hãi nó ngấm vào từng thớ thịt nên chẳng nghĩ ngợi gì đến lễ tết cả. Khi quân Pháp rút rồi thì mọi người mới lục đục kéo nhau về làng. Về đến nơi, nhà cửa tan hoang, ruộng vườn xơ xác, có con lợn con gà nào cũng bị quân Pháp nó xơi hoặc nó bắn chết. Nhà nào may mắn còn sót lại thứ gì ăn được thì nấu lên, trước thì cúng tổ tiên sau là để cả nhà ăn Tết. Trước tình cảnh như vậy, các cụ lớn tuổi trong làng mới kêu gọi mọi người góp tất cả thức ăn gạo muối lại, đem ra sân đình để cùng nấu nướng rồi cùng ăn Tết với nhau, tránh cái cảnh người đói người no. Hôm đó là ngày 30 tháng Giêng năm ấy, và từ đó hễ cứ đến ngày 30 Tết cùng hàng năm là bà con trong làng lại mang thịt cá, mắm muối, rau cỏ …của nhà mình ra sân đình để góp phần ăn Tết cùng 30. Thời gian đầu còn lộn xộn, nhưng khi đã thành lệ làng thì nhà nào phải góp cái gì cho Tết cùng đều được các cụ trong làng chỉ định. Như thế để tránh đi cái kiểu năm thì nhiều thịt quá, năm thì nhiều cá quá. Sau này, có nhà chả được các cụ yêu cầu góp gì cụ thể thì góp tiền cho nhanh, mỗi suất trong nhà vài chục ngàn, mà kể cả không có đóng góp gì thì vác mồm không đi ăn cỗ cùng chả ai nói gì, nhưng thường chả ai làm vậy vì tính sĩ diện của dân làng tôi rất cao.

Bà cụ nhà tôi năm nào cũng được làng giao cho chăn mấy con lợn để mổ vào dịp Tết cùng, vì mọi người bào cụ nhà tôi mát tay, chăn lợn không mỡ quá mà cũng không xơ quá. Tiền lợn giống là của quỹ Đình, đây là tiền công đức của bà con trong làng và khách thập phương đến viếng Đình. Thường là 3 con lợn nhỡ, nhưng năm nào ao cá làng ít cá thì phải năm con. Nhà có một mặt sát đường đi của làng nên mẹ tôi và chị dâu Cả xây cái chuồng lợn hướng mặt về phía đường làng, còn cổng nhà lại quay vào ngõ nhỏ. Cái chuồng lợn của làng cứ để toang hoác như thế mà chả hề sợ trộm, thách bố đứa nào dám trộm lợn của làng. Chính vì cái chuồng lợn để ngay đương đi như hế nên cũng tiện cho mọi người cùng góp tay chăm sóc lợn. Nhà nào có canh thừa cá cặn mà chưa biết đổ đi đâu thì cứ đổ toẹt vào cái xô cạnh chuồng lượn của bà cụ nhà tôi, rồi chiều đến chi dâu Cả của tôi sẽ xách về cho thêm cám, rau chuối, bã đậu vào để đun thành cháo cho lợn ăn.

Quanh cái chuồng lợn ấy cũng có lắm chuyện buồn cười. Khi dân làng chán tụ tập ngoài quán bún đầu làng, hoặc chả uống chè chén mãi cái quán trên đê nữa thì lại tụ tập quanh cái chuồng lợn của bà cụ tôi để chỉ trỏ bàn tán. Nào là bàn còn lợn lang kia tinh hơn con lợn trắng, con đuôi xoắn kia tợp mạnh hơn, con mõm ngắn này thịt chắc … khi chán chê thì bắt đầu xoay sang bàn cách chọn giống lợn, nào là nên chọn những con tai đứng ngực rộng, những con tai nghiêng mặt lõm thì vứt nhưng có ông thì vặc lại: “Ông biết đếch gì về lợn mà cứ nỏ mồm. Ai bảo ông tai nghiêng mặt lõm thì vứt. Không biết thì im mà nghe người ta bảo cho. Đi chọn lợn, nếu lợn nái thì phải mõm bẹ, mông nở chân to, hai hàng vú thẳng đều, số vú phải chẵn, tốt nhất là 12 vú trở lên. Còn lợn đực thì phải bốn chân thẳng, lông mềm thưa, móng hến, 6 vú thẳng hàng săn chắc, hai cà đều nhau nổi rõ …” Đại khái những tranh cãi không đầu không đuôi như thế cứ râm ran suốt bên chuồng lợn nhà tôi vào những buổi nông nhàn. Bà chị Cả tôi để cả cái chổi xể với cái xô nước gần đấy, hễ ai mà ngứa mắt về chuyện phân lợn nước tểu lợn chưa được dội thì xắn tay áo nhảy vào quét dọn. Đối với người nhà quê, những chuyện ấy chả nề hà gì, đó chẳng qua đang lúc rỗi rãi thấy việc thì làm cho đỡ buồn bực chân tay. Có người còn nhảy qua chuồng lợn vào sân giếng nhà tôi để cắm máy bơm, xịt nước tắm cho lợn. Mọi người làm vậy là vì nhà tôi thường ngày cũng neo người, với lại đây là lợn của làng nên ai cũng có thể làm được. Trong làng có đứa em làm thú y trên huyện, cứ dăm bữa là nó lại đáo qua để ngó xem mấy con lợn có gì bất thường không. Nuôi mãi cũng đến ngày thịt, ví như ngày mai thịt thì hôm nay bà cụ nhà tôi ra chuồng lợn cho chúng nó ăn xong lẩm bẩm nói chuyện cà kê với chúng nó, như kiểu chia tay vậy. Khi thịt bầy lợn cũ rồi thì ít nhất nửa tháng sau mới thả lợn mới vào chuồng, như thế là để cho cái sợ hãi của bầy lợn cũ khi bị giết thịt không ám vào đàn lợn mới khiến cho chúng nó không lớn nổi.

Ra ngoài đình ăn cỗ cũng phải có phép tắc đàng hoàng. Bọn trẻ con thì trải chiếu ngồi ngoài rìa sân đình chỗ gần bếp nấu. Cánh phụ nữ thì ăn luôn ngay hông đình vì lệ làng không cho phụ nữ ăn ở sân đình. Đàn ông con trai thì ăn nhậu trong sân đình. Các cụ cao niên và những người được các cụ mời thì vào ngồi ăn ở hai gian tả hữu của đình. Tôi thì chưa bao giờ được các cụ cho vào ngồi ở hai gian trong đình, có ông anh Hai nhà tôi thì ngồi chễm chệ ở đó suốt. Và ông ấy rất tự hào về chuyện này, ra cái vẻ ta đây là trưởng chi rất buồn cười. Nói thật chứ, có mời thì tôi chả muốn vào ngồi cùng các cụ, rượu vào lời ra, mà tính tôi hay bộp chộp lỡ có gì thất thố thì có nước khỏi về làng. Với lại các cụ uống rượu ít nhưng hay khề khà nâng lên đặt xuống. Tôi cứ đợi cho các cụ ngà ngà thì mới cầm chén rượu của mình vào mâm các cụ mời các cụ nâng chén gọi chúc sức khỏe các cụ. Đấy là phải đứng để mời rượu, chứ đừng có vô ý mà ghé đí t ngồi vào phản của các cụ mà mời, các cụ chả thèm uống mà có khi lại ăn chửi nữa ấy chứ. Ai mà bị chửi giữa làng thì rõ chán. Khi mời rượu xong, thế nào cũng có cụ thủng thẳng bảo: “Anh Taxi này, năm nay có khi anh cũng trọng tuổi rồi, tính nết cũng nền hơn lúc xưa. Sang năm, nếu không có mặt bác Hai nhà anh (tức ông anh Hai của tôi) thì anh có thể đại diện cho bà cụ nhà anh vào đình thắp hương rồi ngồi cùng với chúng tôi mà hưởng lộc các cụ”. Tôi vâng dạ rối rít. Nói là hưởng lộc cũng đúng, vì tất cả các mâm cỗ khác thì được dọn thẳng từ nhà bếp lên, nhưng mâm của các cụ thì phải thắp hương để lên án thờ của đình, khi hương tàn non nửa thì mới hạ mâm xuống để các cụ xơi. Có độ năm mâm như vậy. Đấy là về lễ nghi như thế, chứ các món trên mâm từ già đến trẻ chả có gì khác nhau. Những hoa quả, bánh trái mà bà con mang ra để thắp hương trên án thờ của đình đều được chia đều cho từng hộ, ai hơn ai kém, chuyện này có các cụ ban quản lý đình phân chia rạch ròi. Có những năm bà con ra đình đông quá mà hoa quả bánh trái ít thì có khi mỗi người chỉ được quả cam, quả quýt hay cái bánh khảo nhưng ai cũng quý, ai cũng mang bằng được về cho con cháu ăn với niềm tin rằng sức khỏe, trí tuệ sẽ đến với lũ trẻ. Thế mới có câu “một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần”.

Hôm rồi, tôi lại thấy các cụ trong ban quản lý đình xuống nhà đưa cho chị Cả tôi tiền để chuẩn bị bắt lứa lợn mới. Lại chuẩn bị một năm mới nữa. Và cũng chuẩn bị cho những câu chuyện vun vặt mới nhưng đầy tình nghĩa lại diễn ra. Những câu chuyện nhà quê miền Bắc …

27-03-2010 02:10 AM

Thấy các bác vào động viên nhiệt tình, lại nhân ngày cuối tuần thảnh thơi nên tôi chạy vào kể lể tiếp.

Thấy bà chị Cả gọi điện báo rằng bà cụ bị ốm, tôi đoán cụ ốm do thời tiết dạo này thất thường lúc lạnh lúc nóng. Với lại sẳn dịp xe đi công tác về ngang nhà nên tôi nhảy xuống để về thăm bà cụ luôn. Về đến sân đã thấy bà cụ ngồi ở đầu hè, tay giã nhát một cái gì đó trong cối đá, tôi hỏi luôn giọng hơi gắt: “Thấy điện thoại bảo mẹ ốm, vậy mà mẹ ra ngoài này ngồi làm gì đấy?”. Bà vội đáp: “Tôi có ốm gì đâu, hôm qua giở giời, xương khớp mỏi nhừ nên tôi đi nằm sớm không ăn cơm tối. Chắc chị Cả lại tưởng là ốm nên mới gọi điện cho anh”. Tôi hỏi tiếp: “Thế mẹ đang giã gì thế?” Cụ đáp: “Vừa rang được ít vừng nên ngồi đây giã để chốc nữa tôi làm lọ muối”. Tôi lại gắt: “Mẹ chỉ hay mua việc. Muốn ăn muối vừng thì để chi Cả chị ấy làm hoặc gọi cái Thu (con gái nhà ông chú) sang nó làm cho. Mẹ ngồi đấy giã cả buổi trong khi mọi người 10 phút thì xong chứ mấy. Mẹ làm thế nào mà vần được cối đá, nhỡ nó lăn vào chân thì chết, hoặc nhỡ lại giã dính tay thì sao!?”. Thấy tôi nói vậy bà cụ ngừng tay đứng dậy rồi bảo: “Thế anh về rồi thì anh làm nốt hộ mẹ, nếu không thích ăn muối vừng thì lấy lạc ra mà rang lên để làm muối lạc, nhưng đừng trộn lẫn hai thứ vào nhau nhé. Răng tôi kém lắm không nhằn được lạc. Có yến gạo chị Cả mới đi xát về hôm qua, chốc nữa làm muối xong thì anh đong hai bát để thổi cơm làm cơm nắm, gạo mới lắm nhựa nên dẻo và dễ nắm lắm. May có anh về chứ tay tôi giờ không nắm nổi cơm nữa rồi”. Thấy bà cụ nói vậy tôi lại thấy xót ruột. Ngồi xuống giã vừng, tôi hỏi vói theo bà cụ đang đi xuống bếp: “Thế chị Cả đi đâu rồi hả mẹ?”. Bà đáp: “Hôm nay 17, đang phiên chợ nên chị ấy đi từ sớm rồi. Chị ấy mang theo cái ổ chó và mấy chục trứng gà lên đê để bán rồi”. Nghe vậy, tôi nói luôn: “Mẹ với chị Cả buồn cười thật đấy. Thời buổi này ai lại bán chó nữa. Bán chó con là xúi quẩy lắm. Ở nhà mà cứ dấm dúi bán buôn linh tinh thế này thì bọn con trên đó làm ăn chết dở luôn. Với lại có mấy quả trứng gà, con đã dặn là để ở nhà cho con, để con về con lấy, mà lại đem bán. Bây giờ trứng trên thành phố toàn trứng trung quốc, ăn vào độc hại lắm”. Bà cụ lại vội đáp: “Đâu có, trứng đợt này toàn là trứng có sống, gà mái nó ấp không hết, dẫm vỡ hết mấy quả rồi. Mà trời lại oi, tôi sợ trứng nó lộn hết nên tôi giục chị ấy đem bán đi đấy chứ. Thôi được, để tôi qua tôi bảo thằng cu Phú lên đê gọi chị ấy mang chó với trứng về. Chắc là chưa kịp bán cho ai đâu”

Làng tôi cứ nhằm những ngày 7 là họp chợ trên, ngày 7 ở đây là tính theo ngày âm tức sẽ họp chợ vào mùng 7, 17, 27. Gọi chợ nhưng thật ra chỉ là dân làng tôi và vài làng lân cận ra ngồi đấy. Ai có gì trong vườn, trong chuồng nhà mình thì gánh ra đấy mà bán, không bán thì đổi. Miễn sao là thỏa thuận được với nhau. Có người bắt vài con lợn thuỗi lên đó để bán lợn giống, có người thì cho xe cải tiến chở cả cây xoan để bán cho những ai có nhu cầu làm cột chống, có người vác vài ống bương, ống giang để bán cho người ta làm lạt buột. Ngoài ra còn có những thứ vụn vạt khác như vài lạng mộc nhĩ, vài cân miến giong, vài cây rau cải, rau cần… gọi là chợ chứ theo tôi đó là nơi cho mọi người tụ tập trao đổi hỏi han tình hình của nhau thì hơn. Cuối phiên, có người dắt đi con lợn thì vác về cây xoan, có người đem chục trứng đi thì mang cân đỗ xanh, có người xách mấy mớ rau đi thì kéo về buồng chuối… Thỉnh thoảng, có xe ôtô của mấy bác bên sở nông nghiệp đi hộ đê chạy qua thì thế nào các bác ây cũng dừng xe lại mua gần như bằng sạch những thứ bà con bán trên chợ. Những dịp như thế, bà chị lại về nhà kể ríu rít.

Đang ngồi giã vừng thì thằng em con nhà chú nó chạy xe xình xịch vào sân. Nó chở sau xe mớ rơm to khoảng một vòng ôm. Giọng nó oang oang: “Anh mới về à? Về chơi hay về việc gì hả anh?”. Tôi nói: “Tưởng bà cụ ốm thì về thăm xem sao. Chở rơm rạ đi đâu đấy?” Nó đáp: “Em vừa đi xin về đấy. Làng mình giờ không ai đun rơm nữa nên gặt xong họ đốt luôn ngoài đồng. Giờ cần rơm để thui con chó mà chạy khắp làng chả có cọng rơm nào. Em phải tận làng Bùi mới xin được mớ này, bên đấy họ nuôi cá nên giữ rơm lại để băm cho cá ăn”. Tôi chỉ đống lá tre khô rồi bảo nó: “Không có rơm thì lấy lá khô mà thui, có gì mà hoắng khắp làng lên thế”. Nó trề môi bảo: “Bác cứ đùa. Ai lại đi thui chó bằng lá tre mất cả mùi của chó. Cái món chó là cứ phải thui bằng rơm mới nhất được”. Tôi nói tiếp: “Thế sao chú không mang rơm về bên nhà chú mà thui, chú mang sang đây làm gì?” Nó trả lời: “Ông cụ nhà em đang cáu vì sáng nay em đập chết con chó đực của ông cụ. Ông cụ chửi em suốt từ sáng đến giờ đấy. Mà có phải tự em muốn đập chết con chó đâu, mồm nó sùi đầy bọt mép, chắc sắp dại tới nơi rồi, nên em bổ thêm cho nó một cuốc, chứ không nó ra ngoài cắn người ta thì bán nhà mà đền. Anh không biết chứ, vợ nhà Bách bị chó dại cắn, giờ đang nằm trên Bạch Mai đấy” Nghe thế tôi liền hỏi dồn: “Sao? Sao lại chó dại cắn? Mà làm sao biết chó đó có dại hay không?” Thằng em tôi nhấn nhá trả lời: “Thì sáng sớm hai vợ chồng nó dọn hàng. Vợ nó thấy có con chó nhà ai nằm dưới gầm chõng, nên tay cầm cái que xua nó đi. Ai ngờ nó bị nó đớp cho nó một cái vào tay. Bẵng đi khoảng chục hôm sau, vợ nhà Bách nó ra ngoài Đình xem hội, tự nhiên nó nghe tiếng trống đình là phát hoảng chui luôn vào xó. Mọi người xúm lại lôi nó ra mới rõ sự tình nên khuyên hai vợ chống nó lập tức nhập viện ngay, chuyến này không khéo là chết người chứ chả chơi. Thế là từ hôm đó tới giờ, làng mình có phong trào truy tìm chó dại để đập chết. Cứ hễ thấy con chó nào đi xiêu xiêu, vẹo vẹo mồm miệng nhớt dãi là hò nhau đập chết. Con chó này của nhà em, em mà không đập thì thò chân ra đường cũng bị làng đập, lúc đó thì đến thịt chó cũng chẳng được hưởng ấy chứ”. Đang nghe nó kể chuyện, đột nhiên tôi để ý thấy thằng này đội mũ bảo hiểm khi xe máy rất nghiêm túc, tôi bèn trêu: “Sao dạo này chú gương mẫu thế. Có một đoạn từ đây sang làng Bùi mà cũng đội mũ bảo hiểm”. Nó đáp: “Gương mẫu gì anh ơi. Mẹ nó, cũng tại cái thằng Tuân con nhà cụ Lãng, nó được bầu làm phó công an xã, rồi nó được phân công phải kết hợp cùng với công an giao thông huyện theo dõi tình hình giao thông trong xã. Hôm nọ, nó với cụ Lãng sang bên cụ Cả để nhờ cụ Cả ra đình nói với bà con trong làng nên chấp hành luật lệ giao thông để tránh cho nó khó xử là phải phạt người trong làng, mà không phạt người trong làng thì lại khó với cấp trên. Rồi tối đến, nó với bố nó lại sang từng nhà để vận động ký giấy cam kết chấp hàng nghiêm chỉnh luật giao thông nữa. Mà nó sang cả bên bác phó (tức mẹ tôi) đấy. Chả biết nó nói hớt lẻo gì mà hôm sau bác phó cứ khen là thằng ấy ngoan, giỏi, còn trẻ mà đã làm đến phó công an, nếu ngày chắc phải ngang với lý trưởng chư ít gì. Thằng ấy mà giở giọng lý trưởng với em thì có ngày tát cho vài cái”. Nghe vậy tôi gạt đi: “Ơ, cái thằng này! Nó làm gì mày mà mày đòi tát nó. Vớ vẩn! Thế là từ đó làng mình cứ đội mũ bảo hiểm mỗi khi lên đường đê à?”, “Vâng, em đây này, trời nóng bỏ mẹ, suốt ngày em đóng quần đùi, vậy thò mặt ra đường là phải úp thêm cái mũ vào đầu mới được. Nếu không nó lại về nó mách bố em, mà ông cụ nhà em càng ngày càng lẫn rồi anh ạ. Hễ có chuyện gì là cụ nói nhiều không tả được, nhiều lúc cụ nói ở nhà trên là em đi xuống bếp, còn cụ nói ở dưới bếp thì em lên nhà trên. Lắm lúc bực mình vặc lại thì cụ lấy gậy cụ vụt, cụ quăng … vụt xong cụ lại kêu là cái quân bất hiếu nó làm đau tay, đau lưng, cụ đòi đi khám ông lang Quyên, nhưng cụ không thích ngồi xe máy mà phải cõng cụ cơ. Em biết là cụ hành em, nhưng đành phải chịu. Lần sau thì cụ nói gì mặc cụ, em cứ im mồm cho xong”. Nghe nó kể mà tôi bật cười, thằng này ương bướng nhất làng nhưng sợ bố một phép.

Thằng em nó thui chó xong ở sân nhà tôi thì nó mang về bên nhà nó để chế biến. Trước khi đi về nó bảo: “Chốc nữa anh sang bên em uống rượu nhé. Em gọi mấy tay nữa đến cho vui. Anh không ăn được chó thì em bắt hai con vịt lên nướng cho anh nhắm”. Rồi quay sang dặn mẹ tôi: “Bác bá đừng cơm no quá nhé, chốc nữa cháu mang sang cho bác một bát rựa mận”.

Trẻ con ở Vietnam, nhất là ở thôn quê, chuyện bị chó cắn là chuyện thường tình. Có đứa bị đợp vào mông, có đứa bị đợp vào cẳng chân …tùy theo chiều cao của từng đứa và của con chó. Tôi ngày xưa thân hình lẻo khẻo, lại nhát chó nên suốt ngày bị chó nó đợp cho. Mỗi lần bị chó cắn, nếu có mẹ tôi ở nhà thì tôi chạy về mách mẹ (bọn trẻ bây giờ gọi là mách bu), để bà qua nhà có chó mà mắng vốn người ta, rồi bà lấy muối trộn với dầu xoa vào chỗ chó cắn. Trường hợp mẹ tôi đi vắng, thì tôi chạy ra ngoài đồng tìm đám bạn trẻ trâu để chúng lấy đất sét lăn vào chỗ chó cắn, lăn xong chúng bẻ cục đất sét ra thế nào cũng vài cái lông dính trong cục đất sét, bọn tôi cho rằng đó là nọc của chó đã được lấy ra. GIờ nhìn lại thấy ngày bé bọn tôi thật ngây ngô, chứ không quái như trẻ con bây giờ. Bọn chó nó rất khôn, hễ anh nào càng sợ chó thì nó càng cắn khỏe, các cụ bảo rằng chúng nó ngửi được mùi mình sợ nó, chả biết có đúng hay không. Vì hay bị chó cắn nên tôi được ông anh thứ ba bày cách rằng, cứ hễ gặp chó nó nhào đến thì đừng chạy mà ngồi thụp xuống, còn mồm thì phải kêu to: “cứ t, cứ t, cứ t …”, chó nó sẽ sợ mà không dám cắn nữa. Rõ ràng đây là cách xui dại nhưng ngày đó ngu ngốc nên tôi chả nhận ra. Đến lúc gặp chó nó xồ ra, nhớ lời ông anh dặn liền không thèm chạy mà ngồi thụp xuống kêu “cứ t …”, chó nó sợ đâu chả thấy, chỉ thấy thay vì đớp vào mông như thường lệ thì giờ nó lại đớp một phát vào vai, một phát đằng sau gáy, máu tuôn đầm đìa. May mà còn lấy tay che được cái mặt chứ không thì nát mặt chứ chả chơi. Hôm ấy, khi được hỏi tại sao lại cho chó nó cắn đau như thế, tôi liền kể cho mẹ tôi rõ ngọn ngành. Nghe xong, bà lôi ông anh của tôi ra nện cho một trận nhừ tử vì cái tội lớn mà xui em làm bậy. Ông anh thứ ba của tôi cũng đểu, mỗi lần họp gia đình là lão lôi cái chuyện chó này ra để cười ngặt nghẽo. Thế mới bực chứ!

Tự nhiên hôm nay toàn nói chuyện chó với má nên chợt nhớ chuyện chó cắn chết người trong Tây nguyên. Kết luận điều tra cuối cùng của cơ quan công an là không ai có tội trong vụ chó má này cả. Văn bản kết luận này như một vòng hoa tang gửi đến cho gia đình nạn nhân, và cũng là lời cảnh báo đanh thép đối với đám dân nghèo đang manh nha có ý định nhặt nhạnh những thứ rơi vãi của các bác nhà giàu. Mọi việc thật rõ ràng, đã nghèo thì cứ để cho chó cắn chết đi cho rảnh nợ (nói theo ngôn ngữ của bác NCS là: Rõ tởm cho bọn nhà nghèo!)

Chó là động vật nên nó không biết đọc và dĩ nhiên không hiểu luật hình sự nên nó không chịu trách nhiệm hình sự khi gây án mạng. Và cơ quan công an tin rằng ông chủ của con chó (gọi tắt là chủ chó) và người huấn luyện chó (gọi tắt là đầy tớ chó) không có mặt ở hiện trường nên cả chủ chó lẫn đầy tớ chó đều vô tội. Mặc dù theo nhân chứng thì thằng đầy tớ chó đã có mặt tại hiện trường khi đàn chó xâu xé nạn nhân nhưng thằng đầy tớ chó ngoảnh mặt làm ngơ, giả vờ như không nghe thấy. Và cơ quan công an tin lời thằng đầy tớ chó hơn tin lời nhân chứng. Ngày xưa, Khổng Tử có nói: Quan xấu còn kinh sợ hơn hổ dữ. Nhưng nếu ngày nay đức Khổng Tử có sống dậy mà nghe chuyện này chắc cũng phải than rằng: Những kẻ coi thường mạng sống của người khác và những đứa bẻ cong pháp luật thì không bằng con chó điên, con chó dại.

Nhân việc này tôi thấy cũng có cái hay. Thỉnh thoảng có người thù nhau đến độ phải giết chết nhau, rồi một người thì xanh cỏ, một người thì ngồi nhà đá. Nay thì tôi chả việc gì phải làm vậy. Ví như trên diễn đàn này, tôi thù nhất là tay Trung Tướng vì tay này hay bóc mẽ tôi. Tôi chỉ cần đi bỏ ra chín triệu đi mua một con chó bẹc giê và để thêm một ít tiền làm ma chay nữa, rồi tôi dụ tay Trung Tướng đến nhà để xùy cho chó ra … thế là xong đời hắn. Cùng lắm là cho con chó đi gặp giềng mẻ, chứ tôi chắc chả việc gì …

#1 3-04-2010 01:51 AM

Ngoài Bắc còn rất nhiều làng vẫn giữ được tập tục lâu đời của các cụ, nhất là những ngôi làng có một vài họ lớn thì những bậc cao niên trong họ rất chú trọng việc giữ gìn sự phép tắc trong họ của mình. Vào thời chiến có thể những tập tục này phai lạt phần nào, nhưng vào thời bình thì mọi rất ý thức trong việc giữ gìn những nét đẹp truyền thống của địa phương mình.

Lại nói tiếp chuyện làng chuyện nước.

Địa thế làng tôi song song với đường quốc lộ, cách đường quốc lộ một quãng đồng. Nếu hướng mặt về phía cổng trước của làng thì bến trái là cánh đồng, còn bên phải là núi. Từ làng đi vào núi phải độ 3 cây số. Ngày còn bé, những lúc được nghỉ hè, anh em bọn tôi thường vào núi làm bẫy bắt những con thú nhỏ. Dân làng thường mua bán, trao đổi với nhau ở bên mạn trái của làng tức là gần phía cánh đồng. Bên mạn phải gần núi thì có trường học, nhà văn hóa và sân bóng đá. Xuyên ở giữa làng là con đường chính để mọi người đi lại, dọc con đường chính ấy lại có các đường ngách theo kiểu xương cá để rẽ vào từng nhà. Theo như các cụ nói thì con đường chính giữa làng có thể đi một lúc 4 xe bò dàn hàng ngang, còn những đường nhánh xương cá thì hai xe bò có thể dàn ngang. Mục đích của việc làm đường rộng như thế này là để những ngày mùa dân làng có thể tránh nhau khi kéo thóc lúa hoa màu về nhà mình.

Nhà tôi nằm đầu tiên trong một đường xương cá như vậy. Tôi hay trêu mẹ tôi và chị Cả là có nhà mặt tiền của làng. Nhà ông chú tôi cũng nằm trong nhánh xương cá đó nhưng ở phía đối diện, có nghĩa là hai nhà chỉ cách nhau con đường có chiều rồng bằng hai chiếc xe bò. Hễ có việc gì cần kíp thì nhà này có thể đừng bên này tường bao gọi ới sang nhà kia là được. Đặc biệt là ở nhánh đó chỉ có nhà chú tôi và nhà tôi thôi, sâu vào trong là ao cá, đất vườn nhà tôi tất và phía đối diện là đất vườn nhà chú tôi. Cuối con đường xương cá đó là lối lên đê, nơi mọi người họp chợ vào những ngày có phiên. Lúc anh em bọn tôi còn ở nhà thì còn năng ra chăm sóc vườn tược, chứ đến khi bọn tôi đi sạch thì mẹ tôi và chị Cả nhà tôi suốt ngày kêu mệt vì vườn quá rộng mà hai bà già cứ phải thơ thẩn làm cỏ vườn suốt. Thật ra, ngày trước ông nội tôi có 4 người con trai, định sau này đất đai sẽ chia đều cho 4 anh em nhưng bác Cả và chú thứ ba mất đi mà chả có vợ con gì nên chỉ còn chú út và nhà tôi thừa hết đất đai của ông nội để lại.

Thời gian gần đây, có người chị họ của tôi hoàn cảnh quá khó khăn, không có mảnh đất cắm dùi nên mẹ tôi gọi anh em bọn tôi về để hỏi ý kiến rằng sẽ cho chị ấy ít đất ở phía cuối vườn, gần đường đê để chị ấy làm nhà và trồng trọt. Anh em bọn tôi thì ai cũng yên vị ở thành phố rồi nên chuyện đất cát ở quê gần như là để mẹ tôi và chị Cả tự quyết hết, có chăng là qua hỏi thêm ý kiến nhà chú tôi mà thôi. Nên khi bị gọi về hỏi những chuyện như vậy anh thứ ba tôi cằn nhằn: “Bọn con bận muốn chết mà mẹ gọi về chỉ để nói mấy chuyện này. Lần sau, những chuyện này mẹ với chị cứ thấy làm như thế nào là thuận thì cứ làm. Xong chỉ cần thông báo với bọn con một tiếng hoặc khi bọn con về ngày lễ, tết thì mẹ nói chuyện sau cũng có sao đâu”. Bà cụ nhà tôi nghe vậy liền nói dỗi: “Thì đây là đất đai của các anh, tôi phải báo trước một tiếng, chứ sau này nhỡ có gì khác ý thì các anh lại trách là tôi không hỏi ý kiến các anh”. Tôi gạt đi: “Mẹ không phải nói thế. Từ trước đến giờ mẹ với chị làm gì bọn con có bao giờ dám trách cứ đâu. Đất đai còn đó thì mẹ với chị xem có đứa cháu nào muốn ở lại quê lập nghiệp thì cưới vợ rồi phân đất cho nó, chứ bọn con ở trên kia rồi chắc chả ai về đây đâu”. Bà chị Cả xen vào: “Chúng nó bảo sẽ lên Hà Nội với các chú tất, chứ chả đứa nào chịu ở đây”. “Lên là lên thế nào, cứ cái kiểu kéo nhau lên ấy hết thì lấy đâu ra chỗ mà chui – ông anh Hai tôi gắt – Em bảo thằng cu Thịnh rồi. Nó học xong ở Hà Nộ là em đưa về để chạy cho nó cái chân cán bộ trên xã. Trên đó có thằng Du vẫn còn vững chân, rồi nó sẽ kèm cặp dìu dắt cho thằng cu Thịnh lên dần, để lỡ mai kia thằng Du nó có về thì họ nhà mình vẫn còn người trên xã, chứ nếu không thì cả cái họ to đại thế này mà chả còn thằng nào trên xã thì có ngày thiên hạ ăn trên đầu trên cổ của mình lúc nào chả hay. Kể cả thằng cu Phú cũng vậy, chuyển sang ngạch hành chính hết, ba cái trò nhân văn thơ phú thì có mà ăn cám. Để lần này em lên em tìm cách vận động cho nó qua ngạch hành chính, rồi vài năm nữa về làm với thằng cu Thịnh. Có anh có em trên đó thì thằng nào dám qua mặt. Còn chuyện đất vườn, bà và chị muốn làm gì thì làm, bọn con không bao giờ dám có ý kiến này khác. Đấy, hôm nay có đủ anh em ở đây, coi như là đồng tình chốt vấn đề đất đai này lần cuối. Con chỉ có ý là bà với chị đừng có lấp cái ao, sau này con hưu thì con về làm cái chòi để thỉnh thoảng ra câu cá…”. Ông anh tôi nói một hơi rất quan cách, rất gia trưởng. Và như bao lần họp gia đình khác, ý kiến của ông ấy là chốt hạ, là nghị quyết khỏi phải bàn cãi thêm, mà thực sự thì chả ai buồn bàn cãi với ông ấy cho rách việc. Có chăng là tôi hay đế thêm vài câu phá ngang cho ông ấy bớt cái tính gia trưởng đi nhưng mẹ tôi thường bảo: “Anh đừng có cãi lại như thế, rồi cả họ này nhìn vào người ta lại bảo cái nhà không có cha nên dột từ nóc thì hổ thẹn cho tôi”, nghe bà cụ bảo vậy nên từ đó tôi chả buồn đôi co với ông anh Hai làm gì. Mà nghĩ cho cùng những việc ông ấy làm cũng là vì gia đình, vì anh em, vì giòng họ chứ chả phải vun vén riêng cho mình nên tôi cứ kệ cho ông ấy quyết mọi việc của giòng họ, như thế càng khỏe cho tôi.

Vì nhà tôi nằm trên cái lối mà mọi người hay đi qua để họp chợ phiên, nên chẳng những người làng tôi đi qua mà cả người làng Bùi và người làng Hạ cũng thường xuyên đi lại cái ngõ này để ra họp chợ. Ví như làng Hạ cách nơi họp chợ đến 4 cây số hơn, bây giờ thì có người chở các thứ đến chợ bằng xe maý nhưng thường là dùng quang gánh đi bộ. Bởi thế họ phải dậy sớm đến chợ cho kịp phiên, vì thường chợ chỉ nhộn nhạo từ lúc khoảng 6h sáng cho đến hơn 9h sáng là sắp tàn rồi.

Bà cụ nhà tôi kê một cái chõng tre ra ngoài cổng nhà dưới gốc cây bưởi. Trên đó bà cụ để vại nước chè xanh và cái ca nhôm của bộ đội để ai đi chợ ngang qua thấy khát nước thì có thể tự nhiên uống. Mỗi lần có người dừng lại uống nước là họ nhìn vào trogn sân nhà tôi và nói với: “Bác ơi, cho cháu xin hợp nước nhé!” hoặc “bác ơi, cho cháu xin ngụm nước nhé”, những lúc bà cụ mệt thì bà chẳng buồn trả lời, cứ kệ người ta uống, còn những lúc khỏe thì bà cụ đi ra ngay. Ra để gặp người uống nước đó hỏi thăm tình hình chợ búa thế nào, đi bán gì đấy, đã mua được gì về rồi, nếu cùng cánh các bà với nhau thì còn lôi trầu cau ra mời mọc. Những lúc ấy thế nào bà cũng kể lể: “Tôi là tôi muốn lên chợ lắm đấy nhưng chúng nó không cho tôi đi nữa. Chúng nó sợ tôi ngã ở dốc đê, mà chả biết anh nào lại mang đá dăm về rải ở dốc thế không biết, từ hôm nọ đến nay đã có bao nhiêu người ngã rồi. Đấy, con Cả nhà tôi, hôm nọ gánh lợn lên đó cũng ngã xầy hết cả chân…”. Rồi những chuyện cà kê, chuyện đồng áng, chuyện đình chùa … các cụ cứ nói với nhau cả buổi không thôi. Nhiều lúc định bảo bà không phải đun nước mang ra cổng nữa, nhưng ngẫm lại thì thấy đó biết đâu lại là thú vui của người già nên cứ kệ cho bà cụ làm, chỉ dặn mấy đứa cháu là phải mang cái vại nước ra cho bà cụ rồi đổ nước sôi giúp bà.

Bên phía nàh ông chú tôi cũng vậy. Ông cho làm một cái bàn đá và vài cái ghế đá để giữa sân. Trên đó có để bộ cờ tướng để cho mọi người đến chơi. Thế là biến thành một nơi sinh hoạt công cộng cho dân làng. Các tay cờ trong làng thương xuyên tụ tập ở đó. Chỉ hai người đánh nhưng cả chục người chầu rìa, cái thói “cờ ngoài, bài trong”, hễ cứ đánh cờ thì những anh đứng ngoài hô hào thật hăng làm rối trí những ông đang đánh. Nào là: “Lên tốt đi, lê tốt đi… chặn vào chân con mã nó, xem nó chạy đường nào”, “Ăn “sĩ gọng” của nó đi…”, “Vào mà ăn “sĩ gọng”, thách ông đấy. Không thấy “mã phòng” người ta nằm đây à”. Toàn thấy những ông đỏ mặt tía tai. Bình thường thì các bố ấy lễ độ với nhàu lắm, nhưng chỉ vì con xe con mã thôi mà nói nhau cứ đôm đốp. Nhìn cái cảnh ấy buồn cười lắm. Đấy là chưa kể nhà chú tôi có nuôi mấy con ngan nhưng chúng nó cứ bay lượn như vịt trời vậy. Những hôm các bố đánh cờ kêu to quá làm bọn ngan nó hoảng, nó bay nháo nhác qua đâu các bố ấy, làm các bố ấy vừa chơi cờ vừa né bọn ngan. Mỗi lần thấy tôi về chú tôi thường bảo: “Anh qua bảo chúng bắt cho con ngan mang về mà nướng, chứ để chúng nó bay lượn cả ngày tôi bực lắm”. Nói là nói vậy, chứ bắt được bọn ngan biết bay đâu phải dễ, phải đợi ban đêm mới tóm được. Mà tôi thích ăn vịt nướng hơn là ngan, nhìn mặt cái con ngan trông ghê bỏ cha. Vịt nướng của làng tôi không giống như bên Vân ĐÌnh là đập bẹp con vịt ra rồi kẹp vào vỉ nướng. Ở làng tôi vẫn để y nguyên con vịt, moi hết lòng ruột ra, xong giã nát của riềng, băm nhỏ xả, tỏi ớt, lá móc mật … rồi trộn với mắm, muối, mỳ chính đem tống vào trong con vịt, còn bao nhiêu thì xát bên ngoài cho tất cả đều ngấm gia vị, sau đó lấy xiên sắt để xiên con vịt nướng trên than hoa. Khi thấy da vịt vàng ruộm lại là được. Mang ra chặt nhỏ mà đánh chén.

Nói gì thì nói, với tôi có được ít tiền thì về quê sống là nhất. Không khí trong lành, an toàn thực phẩm (vì toàn của ở nàh nuôi hoặc trông được nên nó sạch hay bẩn là mình biết rõ nhất), tình cảm xóm giềng chan hòa. Không khéo sau này về hưu tôi cũng theo chân ông anh làm cái chòi cạnh ao để vừa câu cá vừa ngẫm cái sự đời vậy …

#2 03-04-2010 06:44 PM

Ngày còn bé, tôi là cái đứa vụng về nhất nhà, cứ động vào cái gì đổ vỡ cái nấy, đã thế lại mắc cái tật nhanh nhảu đoản và y như rằng cứ sờ vào gì là hỏng bét cái đấy. Mỗi lần làm đổ vỡ như vậy bà cụ nhà tôi đều mắng một vài câu, chỉ mắng thôi chứ bà không đánh đòn vì phần tôi ốm yếu nhất nhà, một phần bà cũng biết tính tôi chỉ vì nhiệt tình muốn giúp đỡ mọi người làm công việc nhà nhưng vì vụng về nên mới làm đổ vỡ mọi thứ mà thôi. Tuy biết là chỉ bị mắng trong những lần làm đổ vỡ như vậy nhưng bị mắng suốt cũng đâm ra ngại, nên có lần rót nước nóng từ ấm sang phích nước tôi luống cuống làm vỡ cả cái phích. Lần đó mẹ tôi gọi lại hỏi nguyên do thì tôi đổ thừa cho con chó nó chạy ngang nên làm đổ phích nước. Bà cụ cáu lắm. Bà lấy roi vụt cho tôi một trận nên thân. Bị đòn đau nên tôi ngạc nhiên lắm. Những lần trước tôi đánh cỡ những thứ còn đáng giá hơn nhưng bà không hề đánh tôi roi nào, lần này có mỗi cái phích, sao bà cụ lại nỡ lòng đánh tôi đau như vậy. Đang còn thắc mắc trong lòng, thì bà cụ ra vườn hái nắm lá rồi giã ra đắp vào những “con lươn” đỏ choét ở mông tôi. Đắp thế cho mát …mông, nếu không chả ngồi được ấy chứ, vì nhà ngoài Bắc bố mẹ nào mà chả có cái roi mây, để thỉnh thoảng “dạy dỗ” con cái. Cái giống roi mây quật vào mông thì buốt lên tận óc. Khiếp lắm!

Bà cụ vừa đắp lá cho tôi, vừa bảo: “Mẹ không đánh mày vì cái tội làm vỡ phích nước, mà đánh mày cái tôi làm sai mà chả dám nhận lại đổ thừa cho người khác. Con người như thế thì lớn lên rất gian ngoa giảo quyệt, không ai dám kết giao qua lại…”. Tôi gân cổ cãi: “Con có đổ thừa cho người khác đâu. Con đổ thừa cho con chó chứ”. “Đổ thừa cho con chó còn đáng đánh đòn hơn, vì con chó nó có biết nói đâu. Nhỡ mẹ mà không nghĩ ra thì mẹ lại cho nó ăn đòn oan à. Như thế thì tội mày cũng gấp đôi đấy nhé. Phải nhớ là từ này đã làm sai là phải dám nhận, không được dối trá quanh co. Nếu không thì mai mốt lớn lên nó hèn người ra”. Tôi nghe bà cụ nói thế, chứ trong lòng lại nghĩ rằng nói dối vài câu thì làm gì mà hèn, cứ anh hùng rơm đứng ra nhận trách nhiệm thì khối cái rầy rà. Đấy là suy nghĩ thời trẻ con thế mà đúng ra phết…

Gần đây, báo chí đồng loạt đưa tin về việc cái cây cầu “bỗng dưng bị …nứt”. Đó là cây cầu Thăng Long. Điều làm cho bàn dân thiên hạ thắc mắc nhất là cây cầu vừa được sửa chữa. Và khi thi công người ta áp dụng những kỹ thuật hiện đại nhất, sử dụng những vật liệu khủng nhất, mới nhất, đắt tiền nhất. Tóm lại, cây cầu được đắp vá bằng tất cả những thứ nhất trong thiên hạ. Ấy thế mà cây cầu nó chả chịu nể mặt, tự nhiên lại đi nứt nẻ chả khác gì cái gót chân thối vậy.

Bọn báo chí vừa ăn Tết xong, đang lúc rỗi rãi mà gặp phải chuyện này thì mừng hớn hở, nhảy vào vặn vẹo đủ điều khiến cho các bác bên Viện khoa học – công nghệ (Bộ giao thông-vận tải), là đơn vị thiết kế, giám sát “bỗng dưng … bối rối” chẳng biết đường nào mà trả lời. Người ta thường nói “cờ bí dí tốt”. Đang lúc bí, các bác ấy ấp úng trả lời đại: “Sở dĩ cầu nứt là vì trời quá rét”. Thế là ầm một cái, cả lũ thiên hạ lại ôm bụng cười lăn cười bò vì câu trả lời hết sức khoa học của Viện khoa học. Có anh cười xong còn cắc cớ hỏi: “Chả hiểu là trời rét hay chính các vị đang rét”, vì nói một cách khoa học với những vị khoa học này thì chẳng lẽ các nước ở xứ lạnh hằng năm thì các loại cầu nó cứ nứt toác ra như đá giời thế này à. Nghe vậy các bác bên VIện lại dè dặt nói tiếp: “hay là tại mặt đường vào mùa đông nó ngót nó rút lại”. Thiên hạ lại cười tập hai và bảo: “Mặt đường nó rút lại hay là các ông rút mất cái gì của nó”. Lần này thì không thấy các bác giả nhời.

Những chị em phụ nữ lầm đường lạc lối, không chịu lao động chân chính thì đêm đêm họ đi ra đứng đường để đón khách. Nhưng công việc của họ không phải đã suông sẻ, họ phải trả tiền cho bọn ma cô để bọn chúng bảo kê cho họ. Người ta coi khinh những người phụ nữ này một thì coi khinh bọn bảo kê ma cô kia 10, vì chúng nó bám váy đàn bà mà ăn. Còn đây, các bác bên Viện khoa học tuy không đến nỗi đứng đường như chị em phụ nữ kia nhưng khi gặp chuyện khó nhằn thì lại đổ thừa là tại…trời. Coi như đã có ông trời bảo kê cho vậy.

Đổ cho ông trời thì cũng OK thôi. Vì ông trời có ở đấy đâu mà cãi lại. Cũng giống như trường hợp tôi đổ thừa cho con chó làm vỡ phích nước vậy (chết! loanh quanh thế nào mà ví ông trời với chó thế không biết nữa ). Chuyện này đến một bà già nhà quê như mẹ tôi cũng biết ngay được đây là cái trò trí trá, khôn vặt. Nhưng đấy là bà cụ nhà tôi đoán ra, chứ các bác ở Bộ đi lại chả suy nghĩ gì mấy.

Nhưng các bác ở bên VIện khoa học vẫn khôn hơn tôi hồi nhỏ (dĩ nhiên!), các bác biết tự giác xin với cấp trên ở Bộ là hãy cho các bác họp lại để nghiêm khác rút kinh nghiệm. Tinh thần là vậy nhưng bọn hóng hớt tin vỉa hè như tôi lại nói bâng quơ rằng: “Rút cái gì mà rút, có mà rút cái giải rút. Để yên thì chỉ có vài vết nứt trên mặt cầu thôi, chứ rút tới rút lui lại lòi thêm vài “vết nứt trách nhiệm khác” thì bỏ mẹ.

Nói về trách nhiệm các bác ấy phải học hỏi các bác bên Bộ giáo dục. Con nhà người ta rứt ruột đẻ ra, lại còng lưng nuôi nó ăn học, lại nhịn ăn chắt bóp từng đồng từng cắc để nó được du học ra nước ngoài học hỏi kiến thức mới, mở mang đầu óc với thiên hạ. Các bác bên bộ học chả tốn công sức nào nhưng vẫn nhảy vào đòi quản lý con nhà người ta. Thế có ghê không? Thế có phải là trách nhiệm không? Ấy thế mà những bác nông dân bán từng hạt lúa cho con ra nước ngoài học vẫn không vừa lòng, những ông bố bà mẹ ấy nhổ toẹt một bãi rồi chửi đổng: “Tiên sư nhà chúng nó! Chúng nó đòi quản như thế thì khác nào mình đây đi quản vịt giời. Rõ nỡm!”

Hoặc trách nhiệm thì phải như ban tổ chức cuộc thi thơ của Thành phố Cần Thơ vậy. Mặc dù ban giám khảo đã chấm cho tác phẩm Trăng Nghẹn được giải, nhưng đùng một phát, ban tổ chức rút xoẹt lại giải thưởng, khiến cho ban giám khảo hóa thành “ban bánh khảo”. Lý do bị rút được cho bài thơ đó ám quẻ nền kinh tế địa phương, nói như một vị trong “ban tổ chứt” thì đã trăng lại còn trăng nghẹn nghe chả sáng tẹo nào, thật vớ vẩn! Nghĩ mà thấy may cho nhà thơ Hàn Mặc Tử là đã chết, chứ nhà thơ còn bán cả trăng đi nữa. Nếu mà còn sống khéo nhà thơ phải bồi thường khối tiền, chứ chả đơn giản là bị rút lại cái gì đó đâu.

Thường thì những gì bà cụ nhà tôi dạy cho tôi là đúng đắn, nhưng gặp những việc như thế này thì tối nay tôi về nghĩ lại vậy …

3# 20-04-2010 02:26 AM

Hôm nay được ngày nghỉ nhưng chẳng đi đâu được, mưa phùn ướt lướt thướt. Cái ngõ chợ ở chỗ nhà tôi thường ngày đã bẩn thì nay biến thành bãi lầy. Chả có việc gì thì chả muốn ra đường, nếu có đi ra thì phải đi đôi ủng thật to mới tránh được bùn đất. Thật là bất tiện.

Đứng trên ban công nhìn xuống chợ thấy người ta đi lại mua bán xôn xao cũng thấy vui lây. Chợ này là chợ cóc thôi, chỉ bán đến tầm trưa là dẹp, rồi khoảng 4 giờ chiều lại lác đác bán cho nhưng người nấu cơm chiều. Mua bán đủ thứ tươi nguyên giãy đành đạch. Ngày trước chợ họp nhau ngoài đường, nó tiện cho người đi đường dừng xe lại mua, nhưng gần đây công an và dân phòng đuổi rát quá nên họ rút vào ngõ nhà tôi. Mặc dù họp chợ ở đây là sai nhưng để giải tán từng này con người lại là một vấn đề nan giải. Thế rồi chính quyền phường theo kiểu khuất mắt trông coi thì thôi, để chợ hoạt động một cách bán hợp pháp. Có nghĩa là bà con dựng lều lán tạm bợ để bán hàng và chính quyền phường cũng xé vé thu thuế ngày(cho những ai bán hàng lưu đông bằng xe), thuế tháng (cho những ai có lều sạp ngồi cố định), cũng có đội an ninh trật tự của chợ đi lanh quanh tuần tiễu trông chừng đứa nào vào chợ mà mắt la mày lém trông giống phường móc túi, trộm cắp là a lê hấp xách tai đá ~~~ cho cút ra khỏi chợ. Những ai mà có sạp hàng phải để lại chợ qua đêm thì đóng cho đội trật tự này 120.000đ/tháng để đêm họ trông chừng cho, nếu có xảy ra mất mát thì đội trật tự phải bỏ tiền túi ra đền. Thành phần tham gia đội trật tự chính là những ông chồng có vợ bán hàng ở chợ này. Trước đây khi chưa có đội trật tự này thì mất cắp lặt vặt xảy ra liên tục, thậm chí bà con ở khu phố gần chợ cũng bị vạ lây vì thỉnh thoảng có nhà kêu ầm lên là mất con mèo, con chó hoặc cái váy, cái quần mới mà đánh nhoằng một cái đã bay hơi đằng nào mất, nhưng tình hình có vẻ ổn hơn từ ngày đội trật tự này được thành lập.

Chợ này họp đông nhất vào buổi sáng, họ tràn lên cả thềm nhà của tôi để ngồi ké. Buổi sáng ra khỏi nhà để đi làm thì cứ phải né tránh, luồn lách mấy vị này nên lắm lúc tôi cũng bực. Có những lần công việc ở cơ quan không suông sẻ trong lòng bực bội nên gặp cái chắn đường chắn ngõ tôi bèn quát um lên, thế là mọi người lại vội vàng tép dẹp qua một bên, và cứ mỗi lần tôi cáu như thế vợ tôi lại chạy ra bảo với những người bán ấy: “Các chị cứ kệ nhà em. Ông ấy cáu em nên mới thế đấy. Các chị nhớ bán hàng xong là phải quét dọn sạch sẽ cho em nhé…”. Cáu như vậy chứ khi nguôi cơn tôi lại cảm thấy ngại. Những người bán hàng trước cửa nhà tôi họ cũng biết là làm phiền nhà tôi nên thỉnh thoảng hai vợ chông tôi đi làm trưa về lại thấy trước cửa treo con cá hay mấy mớ rau, chắc là của những người đó biếu nhưng khi vợ tôi đi dò hỏi để trả tiền thì chả ai nhận. Hôm rồi, hai vợ chồng bà chị họ đèo nhau từ quê ra nhà tôi chơi rồi hỏi ngồi nhờ phía trước nhà để bán thịt lợn. Dĩ nhiên là bọn tôi đồng ý ngay. Vợ tôi cũng vui ra mặt vì lúc rảnh rỗi đã có ngồi buôn dưa lê.

Hai vợ chồng bà chị lục đục dậy từ 3-4h sáng để thịt lợn, thịt xong chở ra chỗ nhà tôi là vừa tảng sáng. Bà chị tôi làm lông bằng nước sôi, tức là làm lông lợn chín nên người ta thích mua lắm, vì như thế da lợn rất sạch long, còn như cánh thịt lợn bây giờ vẫn làm là cạo lông sống, tức là cứ lấy dao lành canh thật sắc để cạo long lợn mà không cần nước sôi. Cạo sống thì miếng thịt đỏ tươi trông ngon mắt, thịt để được lâu nhưng khi mua về chế biến thấy lông cứ lởm chởm rất kinh, thường là phải lạng bỏ da đi mới dám ăn. Mua được miếng thịt ba chỉ về kho mà phải bỏ da đi thì nồi thịt mất ngon. Làm lông chín thì mất công đun nước sôi, thịt tái màu hơn, không để được lâu nhưng lông lá sạch sẽ. Bà chị tôi cứ chọn lợn thịt độ ba mươi cân hơi là vừa bán đủ trong một buổi chợ. Chỉ chở một nửa con lên thành phố, còn nửa còn lại và bộ lòng thì để lại nhà quê cho người khác bán. Ngày trước, bà chị cứ chở nửa con lợn máu me be bét nằm chành ành phía sau xe để chạy vào thành phố, nhưng từ ngày báo chí mấy bài viết về chuyện “xác chết” được chở vòng vèo khắp thủ đô nên các ngành chức năng bắt buộc những ai chở thực phẩm tươi sống vào trong thành đều phải cho vào thùng hộp tử tế, nếu không sẽ bị tịch thu nên bà chị chặt nhỏ lợn ra bỏ vào thùng tôn để chở vào thành.

Những hôm ngày nghỉ, khi vợ tôi ngồi buôn chuyện với bà chị bên chõng thịt lợn thì tôi cũng lân la ra ngồi cùng với mấy ông trong đội tự quản chợ để hóng chuyện. Chợ đang tầm đông, bỗng có chiếc xe ô tô lù lù tiến vào làm giao thông tắc nghẽn. Thường ngày thì thật vô phúc cho tay lái xe, vì các ông bên đội tự quản sẽ nhảy xổ ra phạt ngay, nhưng lần này thì khác, các ông ấy cứ đùn đẩy nhau ra: “Ông ra xem thằng nào đấy. Ông phạt nó cho tôi..”. “Ông đi mà phạt. Chỉ được cái tinh tướng. Xe này nó vào nhà ông phó chủ tịch quận đấy. Ra đấy thì biết thằng nào phạt thằng nào đâu nhé”. “Có ông tinh tướng thì có. Ông ngu bỏ mẹ, con xe này là con xe mo-ninh ghẻ (KIA). Phó chủ tịch quận thì thèm đ éo gì đi xe loại này. Tầm ông ấy phải mấy con như bê em vê, méc xê đéc hoặc chí ít cũng phải là cam ry ba chấm nhé – tay đội phó đội tự quản ra cái vẻ sành điệu- Mà có đi thì ông ấy cũng đi bằng cỗng kia của ngõ chứ đời nào ông ấy đi cổng này, vừa chen chúc vừa bẩn thỉu”. “Thôi xin bố! Bố ngu nhưng lại hay đi nhiếc người khác. Bố đọc mấy cái tên tây ấy ra để doạ ma đấy à. Đành rằng ông phó chủ tịch đếch thèm đi loại xe này, nhưng con cái rồi họ hàng hang hốc nhà ông ấy chưa đến lượt đi xe oách thì có con xe này đã là tốt lắm rồi. Đây là xe ô tô nhá, chứ không phải xe quây tàu nhà ông đâu mà ông chê õng chê eo. Cả đời nhà ông nếu có được đi ô tô thì đó phải là ô tô buýt nhá, chứ thò chân lên con xe này thì nó vụt cho nát chân. Đây ông có ngon thì đi ra mà tuýt còi phạt nó, rồi coi chừng mà chọc vào kiến lửa, rồi thì cái đội tự quản giẻ rách này thậm chí cả cái chợ này cũng tự động bay hơi”. Các ông trong đội tự quản cứ mãi cãi nhau, còn cái xe ô tô thì kiên nhẫn nhích từng tấc một cuối cùng cũng thoát khỏi đoạn chợ để vào nhà ai đó trong ngõ này.

Tôi phì cười vì những chuyện lặt vặt trong ngõ chợ …

@Bác Nguoc dong: Phở chó cháo chó thì tôi chỉ nghe nói đến chứ chưa ăn bao giờ, vì mặc dù tôi là bắc kỳ chính gốc nhưng lại kiệng thịt chó. Nhưng tôi nghĩ chắc là nó không ngon. Phở có hương vị đặc trưng của phở và thịt chó cũng có hương vị đặc trưng riêng của chó thế nên hai dòng hương vị này trộn vào nhau chắc chả ra sao cả. Ví như thịt chó mà không có mắm tôm giềng mẻ mới ra thịt cho được, thế mà giờ lại bỏ mắm tôm vào trong phở thì hỏng bét rồi còn gì. Ngược lại,nước phở có hoa hồi, thảo quả, hành tím nướng … và nó hoàn toàn không hợp với thịt chó. Còn chuyện gọi là cầy hay là chó thì tôi chưa rõ lắm, thường dân Bắc không ai nói đi ăn thịt cầy bao giờ nhưng khi viết biển hiệu họ sẽ ghi là cầy. Ví như họ sẽ nói: “Tháng này đen quá, cuối tháng góp lương lại lên đê làm bữa thịt chó cho giải đen nhé”, hoặc: “Cỗ tân gia nhà Giáp nó làm toàn thịt chó thôi. Ăn về nóng muốn chết, phải đi tắm cái đây…”. Còn như biển bản của hàng bán thịt chó thì họ sẽ đề: “Cầy tơ bảy món” hoặc ” A, đây rồi! Cầy tơ …”.

4# 22-04-2010 05:20 PM

Bác be nice,

Tôi chưa có dịp con dâu Nam trong gia đình Bắc nhưng rể Nam ở ngoài khá nhiều, thường là người Nam tập kết năm 54. Những gia đình ngoài này rất quý con rể gốc Nam. Theo họ, con rể miền Nam hiền lành, chí thú làm ăn, biết yêu thương vợ con và không có cái thói khôn vặt như nhưng ông rể miền Bắc. Nói chung, rể hay dâu Nam ở ngoài này đều thuộc hàng quý hiếm cả .

Lại nói tiếp những chuyện vớ vẩn.

Cứ mỗi chập tối, cơm nước xong, cả gia đình tôi ai lại việc nấy. Con trai chuẩn bị bài vở cho ngày mai, vợ lo soạn giáo án, còn tôi thì dĩ nhiên là ngồi tròn chân xem TV. Nếu không kể đến những thiếu thốn vật chất thì đây đúng là gia đình kiểu mẫu. Hạnh phúc là đây chứ đâu nữa. Hình như lúc trước tôi đọc đâu đó có ghi rằng hễ ai vừa lòng với những gì mình có thì người đó đang hưởng hạnh phúc vậy. Rất đúng. Ví như anh xe ôm ngày chạy được vài cuốc, khách hàng trả tiền sòng phẳng, không kèo nhèo bớt một thêm hai, không bị thằng nghiện nào nó kề dao vào cổ đòi cắt tiết, không bị các bác giao thông phạt vạ, không bị bắt phải bỏ tiền túi ra để may đồng phục mặc cho đẹp phố phường vào tháng 5 tới là hạnh phúc lắm rồi. Tôi cũng có lần nghe trộm các bác quan tham tâm sự về hạnh phúc của mình là một buổi sáng sớm, trời u ám, bỗng nhiễn thấy công an ập tới nhà cùng với đại diện tổ dân phố rồi sang sảng đọc lệnh bắt và khám xét, sau đó bị còng tay trước mặt bà con hàng xóm, đúng lúc sắp bị dẫn ra xe tù thị bỗng dưng bên công an có điện thoại xuống rằng đã vào nhầm nhà, đáng ra là phải vào nhà quan tham bên cạnh cơ. Thế là “tách” còng được tháo ra kèm theo lời xin lỗi lí nhí của cơ quan công quyền. Chính giây phút đó, giây phút mà còng được tháo ra ấy, quan tham nhà ta cảm thấy cuộc đời hạnh phúc nhất. Khái niệm về hạnh phúc nó trừu tượng bỏ cha nhỉ!

Lại nói vể chuyện tôi ngồi hóng mỏ xem TV. Ơn trời là sau một ngày dài chiếu toàn trung quốc hoặc Hàn Quốc thì đài truyền hình nhà ta cũng dành một thời lượng nhất nhất định để chiếu phim Vietnam. Thuật ngữ truyền hình gọi đây là “giờ vàng phim Việt”. Phim Việt nói chung là chán, diễn viên đang đóng phim mà cứ ngỡ mình đang đóng kịch, lời thoại nghe rất giả tạo không sát với thực tế. Ghét nhất là cái màn ăn uống, một anh nông dân mà ăn uống cứ nhỏ nhẹ như công tử, nhúng đôi đũa vào bát mút từng hạt cơm một, trông cứ điêu điêu. Lại cái màn gọi điện thoại thì hễ bấm xong số là a lô luôn, cứ như nhà nước Vietnam đã thửa riêng cho dân mình mỗi người một cái vệ tinh vậy. Mấy chuyện này thiên hạ góp ý ra rả với bọn đạo diễn nhưng vẫn không chừa cái tật. Lại thêm mới đây các bố đạo diễn lại vác nhau ra lăng cuả vị vua triều Nguyễn để diễn trò con từu, Vietnamnet nó chửi cả ngày mà vẫn không chịu sửa sai. Thôi thì tổ tông linh thiêng cứ hành cho chúng nó thượng mã phong cả lượt với nhau cho chúng nó chừa cái thói báng bổ ấy đi.

Đang ngồi xem Tv thì con trai chạy ra hỏi: “Bố ơi, cái câu “miệng nhà quan có gang có thép” là ý nói gì hở bố?”. “Bố đang xem Tv. Sao không hỏi mẹ mà phải chạy ra đây hỏi bố?!”. ” Vì bố là quan nên con mới ra hỏi bố cho chính xác”. “Nhầm to con ạ! Bố vẫn thuộc dạng lính lác thôi. Nhà này nếu có ai là quan thì phải kể đến ông ngoại mày hoặc bác Hai mày. Thôi được, để hôm nào bố mời ông ngoại và bác Hai sang chuốc rượu cho say rồi vạch mồm ông với bác ra cho mày xem gang thép nó thế nào nhé”. Thằng cu con nghe vậy liền thè lưỡi chạy mất.

Lại nói chuyện ganh thép mới nhớ chuyện hôm rồi về quê.

Về đến quê thấy bà chị đang lúi húi một mình đóng cọc rào chân mấy quả đồi sau nhà tôi lại. Tôi vội chạy ra để phụ một tay, rồi hỏi: “Đang yên đang lành sao tự nhiên bác lại đi rào lại?”. Bà chị bèn vừa quấn dây gai vừa kể: “Hôm trước, có lão Hoạt trưởng thôn sang đánh tiếng hỏi mượn đất đồi nhà mình để giồng sắn cho hợp tác xã thôn, vì để hoang hóa thế này thì phí. Đến khi thu hoạch sẽ trả nhà mình 3 phần. Nếu được thì lão mượn khoảng 10 vụ. Tôi với mẹ trả lời dứt khoát là không có mượn mỏ gì cả. Nói thật với chú chứ, tôi lạ gì lão Hoạt, lão tinh như rắn độc, chả thế mới bò được lên chức trưởng thôn, chỉ được cái mồm mép lươn lẹo, chứ chữ nghĩa có học hành ngày nào đâu. Làm gì có chuyện giồng sắn cho hợp tác xã, lão muốn giồng sắn để nuôi cá ở đầm Hạ mà lão mới thầu lại của xã thì có. Tôi là tôi không dây dưa với loại người như lão ấy. Với lại, chả có cái ngu nào bằng cái ngu cho mượn đất. Sau này, tôi với mẹ nằm xuống, các chú ở tít trên thành phố không tỏ ngọn ngành, thế là chúng nó đương nhiên cướp được đất”. Nghe thủng câu chuyện, tôi nói tiếp: “Thì không cho lão ấy mượn thì thôi. Việc gì mà phải rào đồi lại?”. “Không rào là không yên tâm, chúng nó có ý đồ dòm ngó đất đai của mình thì mình phải đề phòng, chứ để nó nhảy dù vào thì mọi việc đã rồi thì là đâm ra lôi thôi rách việc. Mấy hôm nữa nông nhàn, tôi gọi thêm anh em nhà mình đến giúp một tay để rào cho nhanh, chứ mấy quả đồi thế này mình tôi làm không xuể. Tôi mà rào xong rồi thì đứa nào léng phéng đến là tôi phanh ngay. Tôi từng đi đào hầm bắn máy bay còn chả ngán, ngán gì mấy đứa chuột ngày – nói câu này bà chị dâu cố nói to như thể cho ai đó nghe thấy vậy”. Tôi bèn nói lấp đi cho nhẹ nhàng: “Việc gì phải hơi tý là động tay động chân. Có chuyện gì thì chị gọi chúng em về để chúng em giải quyết” .”Chú cứ mặc tôi. Các chú nước xa không cứu được lửa gần. Mình mà không quyết liệt ngay từ đầu thì mất hết đât, mai chết không có đất để mà chôn, con cháu không cháu sau này không có đất để mà sống”. Tự dưng tôi thấy khiếp bà chị dâu, thường ngày hiền lành nhường nhịn trên dưới vậy mà bỗng dưng nổi đóa lên như thế. Mặc dù vậy, tôi cũng thấy vui trong lòng vì có được bà chị dâu quyết đoán.

Mấy quả đồi nhà tôi cũng có sự tích cả đấy.

Ngày xưa, ông nội nhà tôi phải đổi mấy chục mét đất mặt đường mới lấy được mấy quả đồi này. Ngày đó các cụ thích ở cùng làng xóm quây quần, chứ không thích ở ngoài mặt đường vừa bụi, vừa không an ninh, vì lỡ nửa đêm có bị giặc thổ phỉ cũng không biết kêu ai. Với một lý do nữa là có ông thầy địa lý nào đó nói nhỏ với ông nội tôi rằng mấy quả đồi đó có hình cái ấn tín, nếu sở hữu được nó thì con cái sẽ phát về ngạch làm quan. Thế là ông nội nhà tôi quyết luôn. Quan tước bổng lộc đâu chả thấy, chỉ thấy mấy anh em quanh đi quẩn lại chỉ đủ vắt mũi bỏ mồm. Ngày anh em tôi còn ở nhà còn siêng năng qua trông chè, trông sắn bên đồi, chứ từ ngày đi hết thì đồi bỏ hoang, mùa đông lơ thơ vài cây dứa dại, mùa hè thì bạt ngàn hoa sim hoa mua. Với tôi, dãy đồi chỉ ấn tượng khi ta yêu đương nhăng nhít, khi ta hẹn hò vẩn vơ, khi ta đón em bên lưng đồi hoa. Bây giờ thì già khú cú đế, vợ con đùm đề thì thiết gì đồi với hoa nữa, mà có thiết thì cũng chẳng có em nào để mà đón, họa chăng còn mấy con ma trơi.

Đấy, bà chị dâu quê mùa ít học của tôi cũng biết giữ đất cho gia đình, cho con cháu chả kém gì các bậc nam nhi. Ấy vậy mà gần đây nhiều tỉnh thành đem đất cho nước ngoài thuê để trồng rừng – nước ngoài ở đây nói trắng ra là bọn trung quốc, cái bọn mà cha ông ta phải rất gian khổ mới đuổi được bọn chúng ra khỏi bờ cõi – đến khi thủ tướng phải chỉ đạo các tỉnh không được phép cấp giấy phép đầu tư cho thuê đất rừng nữa thì mọi chuyện đã rồi. Bọn nước ngoài nó đã trông cây từ hồi nào trên đất của mình rồi còn đâu. Chẳng những thế đây còn là vị trí xung yếu về anh ninh quốc phòng nhưng cũng cóc thèm tham khảo ý kiến bên Quân đội một lời nào.

Khi báo chí đem vụ này đi căn vặn một vị quan đầu tỉnh đã cho bọn nước ngoài thuê đất rừng (lại nói trắng lần nữa đó là bác Nguyễn Văn Bình, phó chủ tịch Lạng Sơn) rằng: “Thế 50 năm nữa thì sẽ ra sao (kiểu như hát bài Que sera sera vậy)?”. Ông phó chủ tịt trả rằng: “50 năm nữa ai làm lãnh đạo thì người ấy lo. Tôi không có nhiệm vụ là ông đầu tư nước ngoài (tức trung quốc) đến cuốc hố trồng rừng là tôi phải đứng canh”. Có nghĩa là sống chết mặc bay tiền thày đút túi cái đã. Có nghĩa là đời cha ăn mặn nhưng đời con chưa khát nước mà đợi đến đời cháu mới chết khô. Có nghĩa là đến lúc ấy ông phó chủ tịch bạo mồm bạo miệng của chúng ta đã chết nghẻo rồi nên ông nhắn rằng “xử lý chuyện đất đai sau này thế nào thì mặc xác chúng bây”. Tôi lúc ấy chắc cũng nghẻo cho khỏe nên tôi cũng theo cái thói của bác phó chủ tịch mà mặc xác chúng bay. Chỉ tội cho thằng Taxi nhỏ nhà tôi chắc là ngu ngơ chẳng hiểu cái tỉnh Lạng Sơn nó tròn méo ra sao thôi.

Đang nói chuyện mồm miệng nên sẳn bàn luôn chuyện của một vị trước là chủ tịch công đoàn của một thành phố lớn kiêm đại biểu Quốc hội. Vị này khi còn dưới thành phố thì tham gia thảo luận chất vấn ở nghị trường rất hăng, dám đột phá những vấn đề gai góc của xã hội làm cho dư luận quần chúng rất đồng tình, rất ủng hộ. Bỗng soạch một cái, bác ấy được rút lên Trung ương làm thứ trưởng, thế là từ ấy bác “tắt đài”, ra nghị trường cứ ngồi thu lu một chỗ chả ý kiến ý cò gì nữa, thế là bà còn mất nhờ. Khi được báo chí hỏi cơ sự vì sao lại như thế, bác ta thủ thỉ tâm sự: “Ở vị trí thứ trưởng, mình có nhiều cái khó lắm. Dù sao mình cũng là người của chính phủ, có góp ý hay kiến gì thì cũng là nói cho mình …”. Thế là rõ, bác ta chỉ quen thói phê bình người khác, còn về tự phê ( không phải là masturba…:P) thì bác không rành.

Thôi thì các bác ấy là quan, mồm có gang có thép, nói gì mà chả đúng.

Tôi đang cố phấn đấu đề cho mồm mình sau này có tẹo chất kim loại …

5# 23-4-2010 02:30 PM

@Bác Ba Khía và các bác: Thực ra, tôi viết bài xong mà thấy có bác nhảy vào tán vào tán ra vài câu là vui rồi, chỉ có điều là đôi khi không thể trả lời được hết các bác, mong các bác thông cảm cho. Không phải là kiêu ngạo gì đâu, chỉ bởi vì trình độ của tôi có hạn nên viết xong được một bài là đầu óc nó loãng toẹt ra rồi, phải nghỉ ngơi mất mấy buổi nó mới từ từ hồi người lại để có cơ viết tiếp.

Bác Unknown,

Bác với tôi biết nhau trên diên đàn này có thể nói là lâu rồi. Tôi không giỏi tranh luận, như tôi đã nói rồi, tôi không hiểu được sâu sắc mọi vấn đề như các bác. Bác chưa từng ghé qua Hà Nội, vậy cứ ghé qua rồi bác sẽ có đánh giá cho riêng mình. Về phần tôi, tôi nghĩ, kẻ sĩ Bắc hà thời nào mà chả có, họ không sĩ kiểu này thì sĩ kiểu khác. Nhiều lúc hạng phàm phu như tôi cứ trông họ làm tấm gương để sống cho đúng, để mơ rằng có ngày mình sẽ được sĩ như họ.

Nói chuyện kẻ sĩ Bắc Hà mới nhớ.

Ở khu tôi ở, trừ tôi ra, còn lại hầu như toàn là kẻ sĩ. Phải kể đến ông giáo già về hưu, bác kế toán nhà máy cơ khí chính xác nghỉ mất sức, tay buôn đồ cổ, anh chàng phụ trách văn hóa phường, chị giảng viên một trường đại học, anh họa sĩ gàn mà cả khu phố chỉ công nhận là thợ vẽ thôi, còn nhiều nữa …

Hôm vừa rồi, ngày nghỉ, tôi mò ra chỗ quán nước chè đầu ngõ để tán chuyện. Ra đến nơi đã thấy đủ mặt anh tài ngồi đó, có thể nói nơi đó là trụ sở thông tin của cả khu phố. Thoáng thấy tôi, ông kế toán mất sức đã gọi rối rít:

– Ông Taxi, ông vào đây. Tôi đang có chuyện muốn hỏi ông đây.

– Gì đấy? Chuyện tế nhị quá là không trả lời đâu nhé – tôi trả lời cảnh giác.

– Làm gì có chuyện khó trả lời. Tôi chỉ hỏi những chuyện thuộc lĩnh vực quân sự của ông thôi.

– Xin ông! – tôi nhăn mặt – Chuyện quân sự thì tôi trả lời thế nào được mà hỏi.

– Yên tâm đi! Tôi chẳng hỏi chuyện thuộc hàng cơ mật đâu. Tôi chỉ hỏi những khái niệm phổ thông về quốc phòng thôi.

– Đã là phổ thông thì việc phải hỏi nữa hả bố trẻ!

– Hỏi lại cho rõ mà lị. Này nhé, bên quân sự người ta định nghĩa thế nào là xe tăng?

Nghe lão ấy hỏi, tôi lập tức cảnh giác lần nữa. Lão này thường ngày vẫn vỗ ngực rằng chuyện trên trời thì biết một nửa, còn chuyện dưới đất thì lão ấy biết hết. Giờ lão đi hỏi một chuyện rất ấm ớ thế này thì thế nào cũng có chuyện gì để lão ấy đá xoáy đây. Tôi trả lời nhát một:

– Ừ thì đại khái xe tăng là phải có tháp pháo, có bánh xích, có đại bác 105 ly, có thượng liên 12ly 7, có…

– Nói túm lại – lão ấy cắt ngang – Ý ông nói là xe tăng là phải có súng ống kèm theo trên xe chứ gì?

– Gần như là thế – tôi lấp lửng – Ngoài ra, xe tăng còn phải là loại phương tiện được sử dụng trong chiến tranh nhằm tiêu hao sinh lực địch và giảm thiểu thương vong cho quân mình. Nó được coi là một loại vũ khí, khí tài hữu hiệu của Quân đội.

– Thế là ông lạc hậu mẹ nó rồi – lão ta oang oang – Vậy mà lúc nào cũng xưng là sĩ quan quân đội đã từng đánh pốt, đánh tàu. Xin lỗi ông chứ, ông mà mang cái khái niệm của ông ra giảng cho các bác trên tổng cục thuế thì các bác ấy đập cho vào mặt.

– Ơ hay, cái ông này! Sáng ra ai chọc ông mà ông lại nhảy đong đỏng lên như thế? Tôi nói sai chỗ nào?

– Chả sai à? Này nhé, thằng đại lý xe pho Thủ đô mới nhập về chục con Hummer H2 có kính và vỏ bọc thép chống đạn, chúng khai với hải quan rằng thuộc nhóm hàng xe tăng nên được miễn thuế 0% đấy. Con xe Hummer ấy tôi thấy rồi nhá. Có mấy con đang đậu trước cửa đại sứ quán Mỹ bên Láng hạ kia kìa. Tôi săm soi mấy con xe ấy rõ kỹ, nhòm trên lại nhòm dưới nhưng cấm có thấy khẩu súng nào đâu, có chăng thì đó là cây súng lục mà thằng tài xế nó gắn chết giữa hai chân nó thôi. Nói thật, tôi thấy nó giống y như cái giòng xe ô tô mà bọn lắm tiền nó gọi là xe SUV nhưng trông nó kềnh càng hơn, thế thôi.

– Ông nên bình tĩnh – ông giáo già thấy tôi đớ người, nên thủng thẳng chen vào cứu bồ – Bên hải quan Hải Phòng người ta có ý kiến rồi. Nếu ý kiến được xem xét đúng cách thế nào chả phải truy thu thuế. Cơm chưa ăn thì gạo còn đấy, lo gì!

– Thôi đi bác – lão kế toán đốp luôn – Tổng cục Hải quan đã có ý kiến kết luận rồi. Các ông ấy cho rằng chưa có cơ sở để kết luận rằng thằng pho thủ đô lách thuế. Vì theo lý của các bác ấy, những con Hummer này có kính và vỏ thép chống đạn giống xe tăng nên nó có họ hàng với xe tăng.

– Như thế là đúng quá rồi còn gì – tay phụ trách văn hóa phường tham gia – Với tư cách tổng cục nên trả lời thận trọng mọi vấn đề để chừa đường lui cho mình, nhỡ sau này doanh nghiệp nó bật lại thì còn đường đỡ.

– Đúng cái con khỉ – lão kế toán không chịu thua – Tuy là cùng tính năng chống đạn, nhưng nó chỉ chống được đạn tiểu liên hoặc đạn súng hoa cải của mấy thằng xã hội đen, chứ chịu thế nào được đạn đại liên, đạn cối. Nói như các ông thì mấy con xe Hummer được xếp ngang hàng với xe tăng chỉ vì có tính năng bọc thép. Cho dù khả năng chịu lực va đập, phá nổ không lớn như xe tăng. Như vậy, có thể dùng tam đoạn luận mà suy ra rằng bất kể xe ô tô loại nào có vỏ bọc thép dù chỉ 1 ly thì đều được xếp dòng họ với xe tăng, đều được miễn thuế để cho công bằng với xe Hummer.

– Bác cứ nói quá – tay phụ trách văn hóa phường phản ứng yếu ớt – Em là chúa ghét bác cái tật hay bắt câu bẻ chữ. Nói chuyện với bác khó bỏ cha …

– Tôi cho rằng cơ quan Tổng cục thuế đã thận trọng một cách thái quá – ông giáo già điềm đạm nói – Mục tiêu của chuyện thuế má là ta có thể áp thuế cao hoặc thuế thấp hoặc bằng 0 là tùy vào mức độ mặt hàng ấy đem lại lợi ích cho cộng đồng và quốc gia. Nhập xe tăng là phòng khi đất nước có xảy ra chiến tranh người ta mang nó ra mặt trận để góp phần đánh đuổi quân thù, bảo vệ cả đất nước bình yên, vì vậy nó được áp thuế 0% là chuyện đương nhiên. Còn xe ăn chơi Hummer chỉ để bảo vệ những cá nhân lắm tiền nhiều của khỏi sự thanh toán của đám xã hội đen, nếu xếp nó ngang với xe tăng thì quả là mất mặt cho Quân đội mà anh Taxi ở đây là đại diện. Tôi thấy anh Taxi nên cảm thấy xấu hổ hay đúng hơn là nhục nhã về chuyện này đi là vừa.

“Quái, các lão này cứ lôi mình vào cuộc là thế nào nhỉ – tôi thầm nghĩ”

– Ối giời, dân lao động kiếm được mấy đồng còm thì cứ ba bảy hai mốt đóng thuế, còn bọn này vung tiền qua cửa sổ để ăn chơi nhảy múa lại chả phải mất đồng thuế nào – Ông chủ quán nước chè đế thêm.

– Việc này chung quy cũng là cái kiểu một sự việc nhưng hai cái nhìn khác nhau thôi – tay họa sĩ kiêm thợ vẽ ngồi cùng bàn với tôi giữ thái độ im lặng nãy giờ mới lên tiếng – Ví như việc điện rò rỉ từ cây ATM giật chết cháu bé lớp bốn thì các bác bên điện lực săm sắn lập ngay ban bệ điều tra, rồi lên báo chí to tiếng kết luận rằng lỗi hoàn toàn do bên ngân hàng và đòi bên ngân hàng phải có thái độ cầu thị, phải nhận trách nhiệm đối với gia đình cháu bé. Thiên hạ lập tức đặt dấu hỏi rằng thế sao trước đây trong những vụ như điện rò từ cột đèn giật chết cháu Cồ Quốc Duy mà chi nhánh điện Chợ Lớn có phần trách nhiệm, vụ cháu Trần Trung Huy bị điện rò rỉ từ cột điện giật chết, vụ cô gái xấu số Hoàng thị Thanh Tuyền bị dây đứt rơi xuống giật chết … mà chẳng thấy nhà đèn đứng ra cầu thị với thiện hạ. Việc này cũng giống như người ta nói “văn mình vợ người”. Văn ông Taxi thì chán ngấy nhưng ông ấy tưởng mình ngang hàng với các bác ở trường Nguyễn Du ra, còn vợ ông ấy xinh nhưng ông ấy vẫn hay liếc cô Nga hàng xóm chưa chồng, có cặp mông to bằng cái lồng bàn. Sự đời nó đểu thế đấy, tốt nhất là cứ phải làm bạn với nó, ý kiến ý cò chỉ tổ rách việc.

– Ơ, thằng cha này! Tôi chọc ghẹo gì ông mà ông lôi tôi vào. Ăn nói linh tinh vợ tôi nó nghe thấy thì ông giờ hồn – tôi sửng cồ với cha thợ vẽ – Tôi biết Nga ngiếc gì của nhà ông, ông đừng có cái kiểu muốn ăn gắp bỏ cho người nhé. Vớ vẩn!

– Chậc, cái vụ này giống vụ ông phó chánh thanh tra bộ giao thông vận tải vi phạm luật giao thông móc thẻ ngành ra dọa các bác áo vàng, nhưng trời bất dung gian, hôm đó các bác áo vàng ăn chay nên vẫn túm ông phó để phạt, lại còn hê lên cho báo chí nó bâu vào xâu xé nữa chứ. Thật là chuối! – anh chàng phụ trách văn hóa lại chen vào – Nhưng cái chuối nhất là bộ chủ quản cấp trên lại bào chữa cuội cho ông phó rằng ông chỉ đưa giấy ra vào cổng thôi, chứ không hề đưa thẻ thanh tra và ý của Bộ cấp trên giấy ra vào cổng là giấy không chính thống nên ông phó không có chuyện cáo mượn oai hùm. Thiên hạ nghe qua đã biết tỏng cái chất thối trong chuyện này. Vì sao ông phó lại đưa thẻ ra vào cổng?! Vì thẻ ra vào cổng mới ghi chức danh trên đó, tức là ghi rõ ràng cái chức “phó chánh thanh tra”, tức là ra vẻ ta đây là sếp phó của cơ quan quản lý ngành, chứ đưa thẻ thanh tra chính thống trên đó ghi chung chung là thanh tra viên thì thiên hạ làm gì biết ông sếp phó nhà ta là anh ất ơ nào. Vụ này gọi là càng bào chữa càng lòi ra cái dốt thà im đi còn hơn…

Chuyện cứ thế kéo dài mãi, con cà ra con kê. Có được ngày nghỉ, ra ngồi quán thì toàn thấy các vị bàn chuyện ruồi bu, chuyện không đâu bấu đâu …

 03-18-2010, 01:05 PM

Hôm rồi, tôi về quê được mọi người kể nghe một chuyện mà cười ra nước mắt. Trong họ nhà tôi có ông anh làm nghề buôn bán cây cảnh, đá cảnh để bán cho dân lắm tiền ở Hà Nội. Thường ngày, ông này cứ phóng xe rong ruổi khắp các bản làng thôn xóm ở những vùng lân cận để mua cây và đá, đem về chế tác lại một chút rồi bán. Mấy cái loại này giá cả vô chừng, chả biết đường nào lần. Nhìn cái cục đá đen xì mà đôi khi bán được vài trăm, cái cây bé tẹo trông chả ra thế nào vậy mà cũng được vài triệu. Mà lão này lại có tính nghệ sĩ, hơi hâm hâm, nói chung là gàn dở. Có khi gặp ông khách nào hợp cạ thì cho luôn cái cây, cục đá quý nhất của mình. Vợ con khỏi cản. Cái xe máy là phương tiện đi lại của ông này cũng lòe loẹt diêm dúa như con công, có cái đẹp đẹp là lão ấy gắn vào xe nhưng cái biển số thì lão lại gỡ ra . Vốn tính nghệ sĩ nên lão ta để tóc dài và buộc túm nó lại theo kiểu đuôi gà. Do tóc tai như thế nên đối với cái nghị định bắt buộc đội mũ bảo hiểm thì lão ấy coi như dành cho ai đó chứ không phải là lão. Lão ta cứ đầu trần phóng như bay trên đường.

Ở cái đoạn đường quốc lộ vắt qua làng tôi, người ta lập một trạm cảnh sát giao thông. Các bác ở trạm này chả thèm bắt các loại xe máy lìu tìu làm gì cho rách việc, các bác ấy cũng chả thèm soi xem những thằng tham gia giao thông có đội mũ bảo hiểm hay không, vì những thằng không đội mũ bảo hiểm chính là những thằng dân ngụ cư tại làng đó. Ví như có thổi phạt một tay đi xe máy không đội mũ bảo hiểm thì ngay lập tức nó sẽ móc điện thoại ra (bây giờ nông dân lại có cái thói hay xài điện thoại) gọi một phát về nhà, chỉ một lúc sau thì họ hàng hang hốc kéo ra, đầu tiên thì đàn bà con gái năn nỉ, các cụ già thì khuyên lơn phân tích này khác, rồi thì co kéo xỉ vả, nhiếc móc đủ loại, trong khi đó đám thanh niên sẽ lợi dụng tình hình lộn xộn để đánh tháo cái xe về thế là công cốc cho các bác áo vàng. Ấy là chưa kể dân làng nó thù cho, lúc trời nhập nhoạng tối nó cho ăn củ đậu bay. Thế là thôi, các bác áo vàng chả dây vào làm gì, chỉ tổ thiệt thân. Các bác áo vàng chỉ chặn các loại xe tải thôi. Bọn xe tải này thì nhẵn mặt nhau. Xe chạy từ xa thì các bác áo vàng nhìn đã biết thằng này có chở quá khổ quá tải hay không hoặc hôm nay nó đã đi được mấy chuyến rồi, cống nạp được mấy lần rồi. Phải tính chuyến là vì giá tiền chuyến sau khác chuyến trước, càng nhiều giá cả càng khuyến mại nhau hơn. Các bác áo vàng cứ ngồi trên con ISUZU mà các bác sành điệu hay gọi pick up thì phải, xe nổ máy rì rì, máy lạnh bật hết cỡ mới chống lại cái nắng gắt mùa hè. Cánh lái xe thì chả cần phải hiệu lệnh dừng xe làm gì, chỉ có thần kinh mới đợi có hiệu lệnh dừng xe, không tự giác thì ăn phạt gấp đôi ngay, cứ đến trạm là lật đật tấp vào, nhảy xuống cầm cuốn sổ gì cũng được, thậm chí là sổ ghi công nợ hàng hóa, đưa vào trong cabin xe cho các bác áo vàng kiểm tra (?), trong vòng vài giây sau giấy tờ sổ sách được trả lại ngay và xe tải kia lại tiếp tục lên đường. Những gì đã diễn ra trong vòng vài giây đó chỉ có trời mới biết được. Mỗi ngày chuyện đó lặp đi lặp lại đến trăm bận.

Dân làng quanh đó đến trẻ con cũng nhìn thấy những chuyện đấy nhưng vì chả phải chuyện của ta nên cứ mặc mẹ nó. Miễn sao cứ lệ cũ mà chơi, có nghĩa là không phạt xe của dân làng. Cho đến một hôm, trạm ấy có bổ xung về một tay hạ sĩ quan trẻ măng mới ra trường, tay này hăng lắm chả cần biết đầu cua tai nheo gì, cứ luật mà phang, anh dân nào mà phạm luật là túyt còi ngay. Báo hại dân làng cứ chốc chốc bỏ cả đồng áng đề tập họp nhau ra giằng xe của nhà mình về. Bà con căm lắm, ngấm ngầm thù cái tay áo vàng tre trẻ kia và cả cái trạm ấy nhưng chưa có biện pháp gì.

Cho tới một hôm, lão anh họ của tôi sau khi lục lọi khắp các làng bản đã vớ được mấy hòn đá và cái cây lộc vừng to tướng. Lão chất tất cả các thứ ấy lên xe để đèo về. Khi chạy xe ngang qua trạm, thì trời bất dung gian, gặp ngay ca trực của tay hạ sĩ trẻ ấy. Trời nắng mà xe lão anh họ tôi lòe loẹt như gánh hát rong, lại không có biển bảng gì, thế toét lại. A lê hấp, dỡ hết các thứ xuống đặng giam xe cho tởn. Lão anh họ tôi ngạc nhiên lắm, vì cứ cái thói cậy gần nhà nên cứ để xem nó làm gì, vậy mà nó giam thật. Lão này tính gàn, thay vì gọi về cho mọi người ra cứu viện thì lão cứ lẳng lặng cuốc bộ về, rồi lão cho xe cải tiến ra thồ tất cả các thứ về nhà. Mọi người trong nhà cứ đay nghiến lão, bởi bây giờ có đi xin về cũng chả được vì đã lập biên bản rồi. Còn lão kia thì chả nói chả rằng, lão đi mua mấy cái bánh mỳ gối, mấy hộp sữa và đút cuốn sổ, cây bút vào túi rồi ra chỗ cái trạm của các bác áo vàng kia. Lão cứ đứng đấy lão canh, hễ có xe nào xịt tới là lão h‎ý hoáy ghi ghi chép chép, xong lại lôi cái điện thoại tàu có máy ảnh ra chụp lấy chụp để. Lão cứ ở đấy 24/24 và lặp đi lặp lại từng ấy động tác. Tối đến thì lão chơi thêm đèn pin. Ăn uống, đái ỉa cứ tranh thủ nhoánh nhoàng tại chỗ, vì hai bên là đồng trống nên cũng tiện cho cái thói sau quận công.

Sự việc kéo dài qua ngày thứ hai thì các bác áo vàng xào xáo cả lên vì thất thu nghiêm trọng. Thử hỏi ai mà yên tâm công tác khi lão gàn kia cứ tác nghiệp không thèm ngưng nghỉ. Thế là đàm phán diễn ra, các bác áo vàng đồng‎ ý cho lão gàn lấy xe về rồi tới ngày hẹn thì ký nốt vào biên bản và đóng phạt cũng được. Nhưng lão gàn này đã lên cơn rồi nên lão chả thèm lấy xe nữa, lão cứ diễn lại trò cũ ấy. Đến nước này thì các bác áo vàng phát cáu lên được. Các bác ấy bèn bảo cái thằng cha xe kiêm cò mồi (trạm giao thông nào cũng phải có thằng cha xe ôm kiêm cò mồi này thì mới là trạm giao thông đúng nghĩa) đi kiếm mấy thằng đầu gấu về dọa lão anh họ tôi một trận để lão ấy ngược chỗ khác. Nhưng các bác áo vàng lại quên một điều, ở nhà quê quan hệ họ tộc vốn rất rộng nên có mấy thằng đầu gấu mò đến thấy lão gàn đó thì đứa nhận là bác, đứa nhận là ông trẻ rồi bị ông trẻ chửi cho một trận là lủi mất. Cứ nhùng nhằng như thế cả tuần lễ, khiến cho các bác áo vàng như ngồi trên đống lửa. Cuối cùng, các bác áo vàng đành mò vào tận trong làng nói khó với cụ trưởng họ. Cụ trưởng họ sau khi khề khà đông tây nọ kia, mới nhận lại cái xe của lão anh họ tôi. Sau đó, cụ vác gậy ra đánh đuổi lão gàn kia về nhà mà lo việc nhà, quấy rối như thế là đủ rồi. Lão gàn kinh sợ cụ Cả nên đành ra về.

Sau này tôi có hỏi lão, nếu không bị gọi về thì lão sẽ tiếp tục bao nhiêu lâu. Lão chỉ cười phá lên mà không trả lời.

Kể lại chuyện này để thấy tính cộng đồng họ tộc ở người miền Bắc rất cao. Đôi khi phép vua chả cái gì cả so với cái lệ làng của họ.

03-19-2010, 10:28 AM

Hà Nội mấy hôm nay nóng vỡ mặt, đã thế lại bị mất điện, thế mới ác nghiệt chứ. Chẳng lẽ lại chạy ra ngoài cây ATM để ngủ thì chả ra thể thống gì nữa. Hai bố con bèn rủ nhau lên cơ quan để ngủ ké máy điều hòa. Hôm rồi, trời nắng nóng, buổi trưa mò về nhà ăn cơm. Vợ xới cho bát cơm nhưng quá nóng nực nên thiết gì đến việc chọc đũa vào, để như thế chỉ độ năm phút bát cơm đã muốn se se khô lại rồi.

Thấy vợ hỏi nhỏ : “Anh có xem cái clip trên mạng chưa?”

Lại tưởng đâu có vụ Vàng Anh khác nữa nên tôi gắt luôn : “Vụ gì?”.

Vợ tôi đáp: “Vụ bọn trung quốc bắn người mình đó”.

Thì ra là vậy, vụ này mấy anh em trong cơ quan đã xem đi xem lại mấy lần rồi, nói chung còn nhiều điểm đáng bàn lắm. Chẳng có người lính nào mà đứng ngây cán tàn cho quân địch nã súng vào mình như thế bao giờ, bản năng người lính thì chỉ thấy lóe lửa đầu nòng đã nhảy ngược lại rồi. Vợ tôi lại hỏi: “Tình hình lại găng rồi hả anh? Nếu có chuyện gì thì anh có đi nữa không? Bọn ở cơ quan em bàn nhau hăng lắm, có đứa còn bảo nếu có chuyện gì thì chúng nó tình nguyện đi”.

Tôi đáp: “Tình nguyện cái con khỉ, đánh nhau chứ có phải đi trảy hội quái đâu. Cái bọn đó cứ làm bộ làm tịch, chứ có chuyện gì thì lại chạy đầu nước… Mà còn xơi mới choảng nhau, phải ngoại giao chính trị, rồi ngoại giao nhân dân chán ra thì mới đến lượt “ngoại giao quân sự”. Ở đâu chả thế, Triều Tiên khiêu khích Mỹ cỡ đó mà Mỹ còn nhịn huống hồ gì là Việt Nam”.

Ấy là nói thế cho vợ yên tâm, chứ sự thật thì chả biết đằng nào mà lần.

Lại nhắc đến chuyện nắng nóng mới nhớ, hiện giờ cơ quan tôi có một anh Tây đang cộng tác ở đó. Anh chàng là Tây đúng theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì quốc tịch là Tây Ban Nha mà. Cái hay của anh chàng này là trình độ tiếng Việt ngang ngửa với trình độ tiếng Anh của tôi vậy. Có nghĩa là hai bên khua tay múa chân như nhau khi nói chuyện. Và thêm một cái hay nữa là anh chàng này dễ hòa đồng, ăn thịt chó, ăn bún chả, uống bia cỏ…đều kham được. Mấy hôm trước, xế chiều, trời oi nóng, nên bọn tôi rủ anh chàng này ra chỗ Tăng Bạt Hổ ngồi uống bia hơi, ăn đậu phụ rán chấm mắm tôm. Khi có tẹo hơi men nên chuyện trò cởi mở hơn. Khi được hỏi hãy nhận xét thật về xã hội Việt Nam hiện tại, suy nghĩ trong giây lát, anh chàng Tây trả lời rất ngoại giao, đó là những câu nhận xét mà ta thường thấy khi các phương tiện thông tin đại chúng phỏng vấn các bạn bè quốc tế, đại khái như: “Đất nước các bạn rất đẹp, còn người Việt Nam thân thiện mến khách, kinh tế phát triển rất nhanh…” Thấy anh chàng Tây nói vậy, tôi chỉ còn biết nhăn nhở cười trừ.

Sau hôm đó, bọn tôi đi công tác Tây Bắc và kéo theo cả anh chàng Tây đó đi. Ra khỏi Hà Nội độ 40 km thì trời xế bóng, lúc này người dân vùng đó mới lùa trâu bò chăn trên núi về nhà, từng đàn trâu bò đi ngổn ngang trên đường quốc lộ mặc cho các loại phương tiện giao thông tha hồ bấm còi rền rĩ. Do trâu bò vừa mới ăn no, lại vận động từ trên núi xuống nên chúng có nhu cầu thải ra và thế là vừa đủng đỉnh đi vừa ị đầy ra đường. Theo thói quen, bò thì vừa đi vừa ị, còn trâu là cứ đứng ị cho xong một bãi tướng thì mới đi tiếp. Thế là anh chàng Tây mắt tròn mắt dẹt tha hồ nháy máy ảnh để chụp cảnh đi vệ sinh bọn trâu bò. Cả bọn trẻ chăn trâu cũng là đối tượng chụp ảnh của anh chàng Tây kia. Bọn trẻ gầy giơ xương, mặc quần áo thùng thình, chắc là hưởng lại của anh hoặc bố, cứ ngểnh cổ lên để nhìn máy ảnh. Đợi trâu bò đi qua, khi xe tiếp tục lăn bánh, tôi mới bảo với anh ta: “Đây mới là Việt Nam thực sự, chứ loanh quanh Hà Nội hoặc Sài Gòn…thì chưa hẳn là đến Việt Nam”. Anh chàng Tây mới thú nhận rằng, từ ngày qua đây đến giờ, chưa đi quá Hà Nội.

Lên tới chỗ để thực hiện công tác, bọn tôi còn thấy mấy chuyện cũng vui. Trong lúc đi khảo sát địa hình, bọn tôi đi trên con đường đèo dốc, một bên là vách núi thoai thoải một bên là vực thẳm. Trên phía vách núi thỉnh thoảng lại có ngôi nhà của người địa phương, những chỗ nào có nhà là y như rằng tôi thấy có sợi dây thòng xuống đến tận mặt đường đi. Khi hỏi cán bộ địa phương rằng dây đó để làm gì, thì được trả lời rằng dây đó là để người dân sống trong nhà đó đu xuống mặt đường mỗi khi có việc cần ra khỏi nhà. Thật ra là có đường mòn để đi nhưng rât vòng vèo nên làm thế tiện hơn. Tôi lại hỏi bọn trẻ con thì làm thế nào, lại được trả lời rằng trẻ con hay trẻ lớn gì cũng đu dây cả lượt với hết. Vị cán bộ ấy còn bảo nếu muốn chứng kiến thì sáng sớm ra xem bọn trẻ con đi học là thấy ngay. Sáng hôm sau cả đoàn bọn tôi ra tận nơi để mục kích cái cánh đi học của bọn trẻ con. Bọn chúng đeo chéo vải sách vở qua vai, hai tay nắm chặt dây thừng, hai chân chống vào vách núi, rồi chúng khẽ nhún mình một cái là buông nhẹ tay ra để tuột dần xuống mặt đường. Trông bọn chúng chả khác gì vận động viên leo núi chuyên nghiệp vậy. Nhìn cảnh đó vừa buồn cười mà vừa thương chúng nó, nói dại mồm nhỡ tuột tay một phát thì …đem suy nghĩ ấy nói với vị cán bộ địa phương thì vị này nói rằng chính quyền địa phương cũng vận động bà con nhiều lần về việc nên đi lại cho đúng đường mòn rồi, nhưng không có kết quả gì. Và vị cán bộ ấy mỉm cười, nói thêm: “Các anh đừng quá lo, chúng nó đu dây từ năm học lớp một tới giờ rồi, nên thành thạo lắm”. Anh chàng Tây lại một phen há hốc mồm vì những gì chứng kiến được. Đấy là chưa kể lúc đến trường học của bọn nhỏ, thầy hiệu trưởng của trường thì kiêm luôn thủ quỹ, kế toán sổ sách, kiêm luôn đứng lớp mà những hai lớp cơ, kiêm luôn thợ mộc thợ nề để xây dựng vá víu lại trường lớp. Bọn trẻ con lúc vui thì nó tiếng Kinh, còn buồn thì nó nói toàn tiếng dân tộc với nhau nên các thầy cô nhiều khi phát khóc lên được vì chả hiểu tiếng. Các thầy cô bèn kéo nhau đi học tiếng dân tộc, thế là thầy dạy trò trong tiết học còn trò lại dạy thầy tiếng dân tộc khi giờ ra chơi. Được vài năm sau, tiếng dân tộc hay tiếng Kinh thì các thầy cô đều có thể thoải mái sử dụng.

Sau đợt ấy về, anh chàng Tây kia vận động được bạn bè anh em người thân được ít tiền. Anh ta định gửi lên Quỹ vì người nghèo của thành phố, với mong muốn rằng số tiền sẽ đến với những người nghèo, cho cuộc sống của họ đỡ khổ hơn. Khi mang ý định ấy ra trao đổi với tôi, tôi nghĩ mãi mà không biết nói thế nào cho hợp lý để anh ta không nên gởi tiền vào đó. Nói thẳng ra abc thì cũng ngượng nên tôi bèn bảo rằng: “Gởi tiền vào những chỗ đó thủ tục giấy tờ phức tạp lắm. Tiền lâu lắm mới được chuyển đến nơi. Cách gọn nhất là cứ giúp thẳng cho người nghèo. Xem những trường hợp cụ thể nào cần được giúp đỡ, rồi xin địa chỉ và gửi thẳng tiền cho họ là nhanh nhất”. Thế là anh ta làm theo như vậy. Vừa rồi có thêm mấy trường hợp mổ tim cho trẻ con ở một tỉnh Bắc trung bộ nhờ những đồng tiền này. Nghe tin tôi cũng vui lây, vì thấy mình đã tư vấn đúng.

03-21-2010, 12:22 AM

Kể tiếp chuyện nhà quê vậy.

Hôm vừa rồi, trời trở rét đậm, rét hại, tôi tranh thủ mấy ngày nghỉ cuối tuần để chạy về quê. Nói phỉ phui cái mồm, chứ thời tiết thế này, các cụ cao tuổi sơ sẩy mà một tẹo là dễ “đi” lắm.

Cũng nhân tiện là giáp Tết rồi, nên về quê lấy các thứ thực phẩm phục vụ ngày Tết lên luôn. Thấy tôi qua Ban doanh trại mượn chiếc com măng ca là mấy thằng em chung bộ phận cùng nháo nhào đi theo, kệ cứ cho chúng nó đi, chắc là muốn về cùng để cò cưa tán tỉnh mấy đứa cháu gái của tôi ở quê đây mà. Rồi lại thấy anh chị em cùng cơ quan thi nhau dặn mang lên cho họ những thứ họ cần dùng trong dịp Tết. Nói thực, bây giờ ăn lương thực, thực phẩm ở thành phố mà run bỏ cha. Biết đâu nay mai các cơ quan chức năng lại công bố rằng có chất gì gây hại cho cơ thể trong đó, ăn uống cứ như là chơi trò ú tim vậy. Cho nên, họ rất thích thực phẩm ở nhà quê. Nhiều khi chỉ là vài mớ rau, vài con cá, vài cân thịt lợn nhưng ai cũng thích vì an tâm là của nhà giồng được .

Còn tôi về quê cũng vậy, người nhà quê cũng chẳng cần mang cho họ cao lương mỹ vị hay những thứ xa xỉ phẩm đắt tiền, không nói quá chứ đôi khi chỉ là những thứ thừa thãi của dân thành thị. Như hôm vừa rồi cũng vậy, tôi mang về một bao tải nhỏ những mẩu nhôm vụn và 6 cái chốt xích xe tăng bị thải loại. Chắc các bác thắc mắc rằng tôi mang mấy thứ đó về làm gì à? Toàn là của quý đối với người nhà quê cả đấy, các bác ạ.

Cái tải nhôm vụn ấy là những mẩu dây nhôm mềm độ mươi, mười lăm phân. Những mẩu nhôm này để bộ đội buộc những mép lều bạt lúc dã chiến, khi dùng xong thì bỏ, tôi cứ gom vào một chỗ rồi mang về quê cho bà chị Cả để bà ấy đi đúc xoong nhôm. Đúc các loại nồi, nồi 20, nồi 40, nồi 50 …đủ loại. Nói thật chứ, nhiều khi mua cho bà chị Cả một bộ nồi inox sáng loáng nhưng nhìn vẻ mặt chị ấy lại không ưng như là mình cho một túi nhôm vụn, khi cầm một túi nhôm vụn mặt chị ấy rạng rỡ hẳn lên. Buồn cười thật, thế mới thấy cái tính lặt vặt của nông dân nó ăn vào máu người Việt mình ghê thật.

Cái chuyện đúc xoong nhôm ở làng tôi cũng hay. Cứ đúc theo kiểu vung nồi và nồi đều in nổi tên của hai vợ chồng nhà ấy. Ví như vợ tên Tuất, chồng tên Dậu thì thành trong của nồi sẽ nổi lên chữ Tuất, còn trên vung nồi sẽ có tên Dậu. Thế là khỏi nhầm, lại ứng với câu “nồi nào úp vung ấy”. Sở dĩ đúc phải như vậy, vì ngày trước nhà nào có cỗ thì cứ chạy khắp làng mượn bàn ghế, bát đũa, xoong nồi về để làm cỗ nên nếu có tên tuổi đàng hoàng như vậy cũng tiên cho lúc trả, khỏi sợ nhầm lẫn. Nồi nhôm nhưng đúc rất dày, theo như bà chị tôi nói thì hơn cả nồi nhôm Liên Xô ngày trước, nấu cơm thì cháy dày cui, vàng ruộm, giòn tan. Cứ miếng cháy còn nóng hổi ấy mà rắc ít muối vừng hay muối lạc lên mà cắn rau ráu thì tuyệt nhất còn gì.

Còn những cái chốt xích xe tăng là của thằng em đồng hao, nó làm bên tăng thiết giáp, mỗi lần duy tu bảo dưỡng xe pháo mà có cái chốt xích nào bị loại là nó để dành cho tôi. Mà phải chốt của xe T54-M mới chất lượng. Tôi mang những cái chốt này về quê, rồi đưa bể lò rèn của thằng cháu họ gọi tôi bằng cậu, để nó đánh thành mấy con dao. Thằng cháu tôi nhìn thấy mấy cái chốt xích là mắt sáng rỡ lên ngay, mồm nó liếng thoắt: “Cậu cho cháu hai cái, còn bốn cái thì cháu đánh giúp cậu nhé” Tôi liền gật đầu, cười vang. Một cái chốt như vậy đánh được một con dao chặt xương to, bản vuông, sắc lẻm. Còn nếu là dao thái thịt thì phải được hai con. Bí quyết khi đánh dao như thế này là tôi vào dầu giảm giật của xe tăng. Đại khái là khi tăng nó bắn một phát thì phải lùi lại đằng sau cả 6, 7 mét nhưng có loại dầu này đổ vào ống giảm giật thì bắn xong xe tăng chỉ nhích về sau đánh “xịch” một cái thôi. Khi tăng diễn tập xong thì thay dầu và tôi lấy cái thứ dầu đã dùng rồi ấy để tôi thép.

Thằng cháu tôi nó mở lò rèn ngay đầu làng, suốt ngày tiếng búa tiếng đe váng hết cả góc làng. Nó làm những nông cụ để phục vụ sản xuất, rồi nó sửa chữa từ cái cuốc, cái xẻng, lưỡi hái, cái rìu …v.v… rồi mài cả dao kéo, kiềm cắt. Vì có một lò rèn duy nhất nên nó làm cho cả làng, ai cần động gì đến sắt thép là nó phục vụ tất nhưng ít khi có tiền mặt, dân làng toàn chịu nợ ghi sổ đến vụ thì trả tiền, khi trả thể nào cũng kèm theo vài cân lúa mới, vài yến khoai hoặc chục gốc lạc …. gọi là ăn để lấy thảo. Cho nên, tuy không trực tiếp làm nông nhưng nhà nó vẫn đầy thóc lúa ngô khoai. Nhà nó có trồng mấy bụi mía tím, loại mía này mềm, lóng dài, ngọt lịm. Khi mía lớn, nhà ăn chả hết, nó cho vợ mang ra mép đường Quốc lộ bán cho du khách đi ngang qua, nhất là khách Hà Nội rất hay đỗ ô tô lại mua mía nhà nó. Vừa bán mía, nó kết hợp bán cả dao, kéo của nó làm ra, gọi là kết hợp một công đôi việc, lấy dao róc thử mía luôn . Do dao kéo làm thủ công, tỉ mỉ nên rất bền, rất tốt. Lưng dao đen bóng, lưỡi dao sáng loáng. Dao thái thịt loại bầu nhọn, nó bán 60.000đ/con, còn dao vừa chặt vừa thái loại vuông to bản thì nó bán với giá 140.000đ/con. Nói thật, mấy con dao thái bằng inox sáng loáng chỉ được cái đẹp mã, chặt xương cù là quằn lưỡi ngay. Còn dao Vietnam chất lượng cao kiểu này thì chặt chém thoải mái mà chả hề gì. Đấy là giá dao thường, nếu là dao làm từ chốt xích xe tăng thì giá khác, một con dao chặt phải 250.000đ/con, còn dao thái thịt thì 180.000đ/con. Nó để hẳn một cái tờ bìa các – tông trên đấy có ghi chữ “dao làm bằng thép chốt xích xe tăng” trông rất ấn tượng. Và nhìn cái cảnh hai bố con nó làm rèn cũng hay. Bể than nóng cứ nổ lửa hoa, tiết trời giá rét nhưng hai bố con cứ áo sát cánh mà quai búa không ngưng nghỉ. Cứ bố một búa nhỏ để gõ nhịp dẫn, còn thằng con thì cái búa độ một cân cứ giã cho bẹp thanh thép đỏ hồng ra. Bố gõ vào đâu thì con lại gõ lệch đi 2/3 búa vào chỗ ấy là đạt yêu cầu. Thằng bé năm nay độ 14, 15 tuổi, sáng đi học còn chiều về là phụ bố quai búa, lúc nào không có con thì vợ nó lại nhảy vào quai búa. Phải nói cả nhà này sức khỏe tràn trề, nhìn vợ nó kéo cả một xe cải tiến mía lên cái dốc đê làng mà phải hãi, chị chàng quàng cái dây thừng vào vai, hai đầu dây kia buộc vào xe, còn hai tay thì nắm chặt lấy hai càng xe, bặm môi lấy hơi một phát là kéo rốc cả cái xe mía lên đỉnh dốc mới nghỉ. Còn thằng con đang độ tuổi lớn mà bắp tay bắp chân cứ cuồn cuộn, hôm nọ thấy cảnh nó cầm đoạn sắt 6 uốn tròn để làm kiềng bếp mà hoảng kinh, cứ như thể nó đang uôn dây mây vậy. Có cho tôi làm thì tôi cũng chịu cứng.

Vậy nên, mỗi lần tôi mang chốt xích xe tăng về là thằng cháu cứ giành lấy khoảng một hai cái. Còn những cái còn lại tôi đi cho các cụ trong họ, để các cụ vừa lòng. Mỗi lần cho cụ nào cái chốt như vậy, các cụ cứ trầm trồ làm tôi cũng vui lây. Nhiều khi cứ nghĩ, có cho các cụ lạng sâm thì chắc gì các cụ đã vui như thế, vì bây giờ các cụ con cháu đầy đàn thiếu gì những của ngon. Tôi cho cái chốt sắt như thế lại hóa là hàng độc .

Còn nhiều chuyện nhà quê lắm. Vui cũng nhiều, mà buồn cũng không ít. Năm hết Tết đến, tôi cố chọn những chuyện vui vẻ, có hậu một tẹo để ngày mai tán tiếp với các bác nhé.


Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Nhân vụ “TS Đỗ Ngọc Bích”, nhớ lại vài nguyên tắc báo chí (Đoan Trang)

Posted by hatvungden on April 24, 2010

Sau bao nhiêu bài “mạt sát” có, đồng cảm có, chỉ trích, thậm chí nguyền rủa cô Bích, tôi thấy có bài của Đoan Trang là hay nhất. Sau này Hà Hữu Nguyên tôi có làm cán bộ nhà nước, có quyền hành trong tay nhất định sẽ “nghe lời” cô Trang, ngộ nhỡ có làm kẻ thù thì cũng sẽ không (thể) lợi dụng cô, còn bây giờ tôi vẫn chỉ là nhân dân và đúng là tôi rất yêu quý Đoan Trang!  Công nhận là lối viết Đoan Trang hay ghê ta. Tôi cũng có đọc qua mấy bài của Huy Đức và thấy (+nghe nói) anh là một cao thủ trong làng báo (nhất là bài gần đây “Cách mạng màu”). Nhưng quả là Đoan Trang cũng đâu có kém. Cô lại chọn “lề phải”, nơi có đông độc giả hơn (giả sử anh xe ôm, bà bán nước có trên tay tờ Pháp Luật, thì thế nào chả biết đến bài viết của ĐT), rõ là dũng cảm và tài năng mới đi xuyên qua được những làn đạn như thế. Mong Đoan Trang sẽ “chân cứng đá mềm”.

HHN

Nhân vụ “TS Đỗ Ngọc Bích”, nhớ lại vài nguyên tắc báo chí

Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” là tựa đề bài viết đăng ngày 17/4 trên BBC Việt ngữ của tác giả Đỗ Ngọc Bích. Chị Bích là một Facebook friend của tôi, do đó tôi đã chú ý đọc bài này ngay hôm BBC đăng tải. Nói chung thì chỉ cần lướt qua một lần là đủ thấy bài viết sẽ gây phản ứng như thế nào trong dư luận độc giả.

Để phân tích tỉ mỉ từng ý, từng câu chữ, chỉ ra từng điểm đúng và chưa đúng về mặt học thuật, thì mất thời gian và nhiều bạn đọc của BBC đã làm rồi. Ở đây, tôi chỉ muốn nhận xét bài như một biên tập viên bình thường đọc bài của một cây viết nào đó.

Tôi không nghĩ chị Bích là “Hán gian” hay “Việt gian”, “điệp Tàu”, v.v. Nếu có thể nhận xét ngắn gọn, tôi chỉ thấy chị… dại, với tư cách một người viết. Không nói chuyện học thuật, kiến thức lịch sử, kiến thức về quan hệ quốc tế, xét thuần túy về mặt báo chí, chị Bích vi phạm một nguyên tắc quan trọng: phải hiểu tâm lý độc giả trước khi viết.

Tâm lý của độc giả, khán giả, thính giả… chúng ta nói chung là “thích những nội dung sẽ củng cố thái độ, quan niệm hiện thời của chúng ta, và ta có xu hướng phản ứng với những ý tưởng đi ngược lại niềm tin của mình. Do vậy, nhà sản xuất (chương trình truyền hình)/ người làm báo v.v. phải cẩn thận trong việc đưa ra những ý tưởng có thể sẽ “chà đạp” lên các quan niệm vốn phổ biến.” (Ron Whittaker)

Điều này có nghĩa là người viết nói chung nên tránh những chủ đề “đi ngược lại niềm tin cố hữu” của độc giả. Vì vậy, nếu bạn định viết “mặc quần là khiêu dâm, cởi truồng mới là đứng đắn” thì cần chuẩn bị tinh thần nghe chửi, tốt nhất là mua lấy cái rổ trước đã. Khi bạn đang ở Angola thì đừng dại mà gọi người dân ở đó là lũ mọi đen không có ngôn ngữ riêng, phải dùng tiếng Bồ Đào Nha, thật là thiếu bản sắc, chao ôi quả là nhục .v.v.

Ai cũng biết quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, kiểu quan hệ giữa một nước nhỏ và một nước lớn ở bên cạnh nhau (nghĩa đen), luôn luôn tiềm ẩn khả năng bùng nổ mâu thuẫn, xung đột. Không riêng Việt Nam với Trung Quốc mà tất cả các nước nhỏ ở cạnh nước lớn đều có thể bị chèn ép hoặc ít nhất cũng có tâm lý của kẻ bị bắt nạt. Tôi từng gặp một vài người Nauy rất ghét nước Nga, vì “ngày xưa chúng nó lấy đất của chúng tao”. Huống chi Trung Quốc hành xử chưa bao giờ là đàn anh, độ lượng với các láng giềng – cái này liệt kê bằng chứng ra chắc là cần cả chục công trình nghiên cứu.

Vì lẽ đó, xét về khía cạnh tâm lý, người Việt Nam rất khó tránh khỏi cảm giác ghét bỏ Trung Quốc – gần như một mối “cừu thù” nằm sâu trong tiềm thức. Chị Đỗ Ngọc Bích lại “khiêu khích” người đọc bằng một bài viết với nhiều lời lẽ đả kích như vậy, thì chưa cần biết chị nói đúng/ sai thế nào, có bị nguyền rủa, đe dọa cũng là dễ hiểu.

Cần nói rõ thêm, nguyên tắc trên chỉ áp dụng cho báo chí. Nếu chị Bích viết bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” và đưa lên bích báo của lớp 10A trường PTTH ABC xã XYZ gì đó, hoặc viết xong cất vào nhật ký, thì chẳng sao. Nếu chị Bích có cả một công trình nghiên cứu đồ sộ, cỡ đề tài khoa học cấp Bộ, Nhà nước… chứng minh sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc, tổ tiên người Việt là người Trung Quốc… thì việc phản biện xin dành cho cơ quan chủ quản và các nhà khoa học. Có điều trường hợp này thì khác hẳn, bởi chị đang viết cho một tờ báo – trang mạng của BBC Việt ngữ.

Như vậy phải chăng là nhà báo không thể viết những điều “có thể sẽ ‘chà đạp’ lên các quan niệm vốn phổ biến”? Câu trả lời tùy quan niệm mỗi người. Cá nhân tôi cho rằng nếu viết, nhà báo phải cực kỳ thận trọng, khéo léo, cân nhắc từng từ ngữ, lập luận chặt chẽ và đầy đủ căn cứ. Cần khẳng định ngay là kể cả làm như vậy cũng không đảm bảo 100% độc giả sẽ “nhất trí cao” với người viết, và nói chung các chiến hữu làm báo chắc ai trong đời cũng ít nhất một lần bị chửi te tua.

Ngoài ra, có những chủ đề nhà báo tuyệt đối không nên động vào, nếu chủ đề đó có nguy cơ rơi vào một trong các trường hợp sau: kích động bạo lực, tội ác, kích động hằn thù dân tộc, cổ vũ cho sự phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào – kỳ thị chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, v.v. Một người bạn (đồng tính) của tôi nói rằng, anh căm thù những tựa báo kiểu như “Giết bạn tình đồng tính”, “Hai người đồng tính giết người cướp của”, “Đêm thác loạn của gay“, “Một kiếp bị giời đầy”, vân vân và vân vân.

Chị Bích có thể nói rằng mình không phải nhà báo, tuy nhiên bài viết của chị lại là dành cho một cơ quan truyền thông đại chúng, vì vậy nếu chị không nhận lỗi thì lỗi này sẽ được “kính chuyển” từ chị sang tòa soạn. Không thể trách độc giả đã mạt sát chị. Không thể nào tuyên bố: “Tôi không đọc, không chấp nhận, và không đáp lại những lời lẽ xúc phạm thô bỉ của những người phê phán, chỉ trích tôi”.

Cuối cùng, xin chia sẻ với các bạn làm báo và không làm báo một “bí kíp” – đúng hơn là lời khuyên tôi nhận được từ một nhân vật từng phỏng vấn: “Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, người viết phải viết sao để chính quyền (buộc) phải lắng nghe, nhân dân yêu mến, và kẻ thù thì không thể lợi dụng”.

Bài viết của chị Đỗ Ngọc Bích chắc chắn không được nhân dân yêu mến, kẻ thù của Việt Nam hoàn toàn có thể lợi dụng, còn chính quyền Việt Nam ngày nay cũng như chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 hẳn cũng chẳng vui gì.

Với một bài báo vi phạm hoàn toàn các nguyên tắc hay là tiêu chuẩn của báo chí như vậy, không hiểu tác giả viết làm chi?…

+++++

Bổ sung thêm một đoạn: Trong bài trả lời độc giả, chị Đỗ Ngọc Bích cho biết chị viết vì “muốn tìm ra nguyên cớ tại sao họ (các blogger trong nước và hải ngoại) ghét TQ và một số lãnh đạo VN đến thế, và cố gắng làm cho họ bớt thù hận, bình tĩnh, rộng lượng hơn một chút với một số bối cảnh ngoại giao Việt Trung hiện thời“. Đến đây tôi xin trở lại ý trên: Nếu viết, nhà báo phải cực kỳ thận trọng, khéo léo, cân nhắc từng từ ngữ, lập luận chặt chẽ và đầy đủ căn cứ.

Theo ngu ý của tôi thì cũng với những ý đó của chị Bích, một nhà báo rất tài năng có thể cho ra một bài viết không đến nỗi hứng một trận mưa chửi. Người viết tay nghề vừa phải thì chẳng nên liều, như nhà em thì chạy cho mau, kiểu như “các cụ” ta dạy “đã yếu đừng ra gió” ấy mà!

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Ngòi nổ Đỗ Ngọc Bích

Posted by hatvungden on April 20, 2010

Đỗ Ngọc Bích đã châm ngòi cho một cuộc bút chiến mà khổ thay, một bên là hầu như toàn bộ những người …biết tiếng Việt, và bên kia có mỗi mình Đỗ Ngọc Bích. Nhiều người đã hạ hỏa, gạt bức xúc ra để cố tìm cách lý giải cho sự trịch thượng, thiếu kiến thức của cô, nhưng cũng vẫn không đứng về bên cô. Cô ra bài sau nữa và có vẻ BBC cũng đang lúng túng không kém gì cô nên không dễ mà “dập” được đám cháy này.  Khen cho cô có tinh thần dám chịu trách nhiệm trước việc mình làm. Nhưng không thấy cô có thái độ học hỏi thật sự. Vẫn vòng vo tam quốc, bao biện vớ vỉn. Những bài viết về đề tài này hẳn sẽ còn dài nữa chứ không chỉ dừng ở đây. Tôi cũng đã có vài comment “chua” hết cỡ nhưng giờ cũng lại đâm lo. Lỡ  “chó chê mèo lắm lông” thì sao, mình đã chắc gì thoát được hẳn cái bệnh dốt và kiêu ngạo mà mình đang chửi…mòn cả bàn phím như vừa rồi. Hôm trước tôi có đọc bài “Phản biện khoa học và trung thực” của KS Lê Quốc Trinh trên BVN (www.boxitvn.net/bai/2961), trong lòng sướng rơn lên khi thấy được lối viết và lối nghĩ mà mình muốn có. Biết thì thưa thớt, không biết thì dựa cột mà nghe. ĐNB viết trong blog cá nhân chắc không có gì phải bàn, vài comment xì xào là cùng, quá lắm thì đóng cửa comment, hết chuyện. Đằng này máu quá, chưa tiên liệu rõ phản ứng độc giả ra sao, lại còn trưng thêm cái mác “tiến sĩ” vào nữa mới nên chuyện. Tưởng sẽ “cứu vớt” được nhân gian, tránh cho trần gian rơi vào thảm cảnh máu chảy đầu rơi nên mới đưa ra một bài viết “nhiều câu hỏi chứ không có câu trả lời” ấy.  Khối kẻ lòng dạ thờ vua Tàu mừng vui khi mới đọc bài đầu tiên của ĐNB, giờ thì chắc hết vui.  Chợt nhớ câu thơ của ai đó (hay ca dao?):

Quê hương là gì hả mẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu?

Vài bài liên quan đến sự kiện này:

Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc

Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích

Phản biện bài của bà Đỗ Ngọc Bích

Tác giả Đỗ Ngọc Bích trả lời độc giả

THƯ NGỎ GỬI VỊ TIẾN SĨ ĐẠI HỌC YALE

Vài lời gửi BBC tiếng Việt

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

Vừng ơi, mở ra!

Posted by hatvungden on April 20, 2010

Không phải mấy ai cũng dám cho mình được bước qua lằn ranh của tự kiểm duyệt. Tảng đá nặng nhất đè nén lòng dũng cảm ấy chính là nỗi sợ, sợ của sự thiếu hiểu biết (fear of unknown). Khi tôi mới sang du học tại châu Âu, nhìn vào bìa một tạp chí có cờ 3 sọc của VNCH mà trong lòng đã sợ (sợ ai đó đang nhìn mình và biết mình đọc đến các tài liệu “phản động”). Mãi sau này tôi mới cắt nghĩa được “ai đó” kia là ai. Hóa ra đó là chính mình mà thôi. Khi nhà văn Lê Lựu sang Mỹ sau khi văn nghệ đã được chút ít “cởi trói”, đồng nghiệp Mỹ hỏi ông “thế ai trói ông?”, Lê Lựu đáp “tôi trói tôi”. Sau nhiều năm ở châu Âu rồi, tôi mới thấy đúng là chỉ có mình trói mình mà thôi và nếu còn tâm lý “rúc đầu vào cát” như con đà điểu thì mình còn sống trong sợ hãi, bất an dài dài. Tuy rằng biết nhiều, nói nhiều lại có những cái bất an khác (hiện hữu hơn), nhất là trong môi trường mà sự khủng bố tinh tần và thể xác đang còn nhan nhản tới độ mà dù có lạc quan mấy cũng không thể chủ quan được (quân tử phòng thân mà).

Con đường thay đổi nhận thức của tôi đã diễn ra từ khi có Internet, qua những bài viết ở trang này trang khác. Nhưng những bài ấy giờ tôi không còn nhớ được nó đã tác động lên tôi thế nào. Mãi tới hơn 2 năm sau ở châu Âu tôi mới biết đến “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên. Tôi đã đọc một mạch trên cái màn hình máy tính cũ (để thấy nội dung của nó đã hấp dẫn tới mức quên cả mỏi lưng, nhức mắt do ngồi lâu nhìn gần). Tôi thấy mình vui và hạnh phúc mỗi khi người tù “chiến thắng” tên quản giáo và cả hệ thống lao tù bằng những đối đáp đầy bản lĩnh và thông minh. Bất giác tôi thấy trong mình vẫn là con người của tuổi thơ thích truyện cổ tích, thích phim có hậu. So với các bài viết lẻ tẻ kia thì cuốn sách này thực sự có ấn tượng hơn cả. Tôi đã bắt đầu cho phép mình thoát khỏi vòng kim cô tự kiểm duyệt. Sau này chiêm nghiệm nhiều hơn, tôi thấy cái tình yêu mình giành cho đảng, cho chế độ thực ra là tình yêu nước. Nhưng chỉ vì mình chưa bao giờ phân biệt được các khái niệm đảng phái, nhân dân, tổ quốc, dân tộc vv nên cứ yêu một cái thành yêu chung tất cả.

Những cuốn sách sau này như “Hồ Chí Minh, a life” (HCM một cuộc đời) của William J Ducker và “Hồ Chí Minh, the missing years” (HCM những năm tháng chưa biết đến) của Sophie Quinn-Judge cũng cho tôi nhiều cái nhìn thật hơn về Bác Hồ của chúng ta. Những thông tin về Bác thì còn phải kiểm chứng nhiều hơn, càng nhiều nghiên cứu độc lập bức tranh càng rõ nét, nhưng cái cách mà hai nhà khoa học này tiếp cận cho thấy mức độ tin cậy của tài liệu rất cao (không giống lối “nói lấy được” như cách mà các loại “nhà” đang làm: nhà nước, nhà đài, nhà trường, nhà “nghiên cứu”….). Khi tôi nói cho vài người những gì mình đọc được thì họ bảo “cẩn thận thông tin trên mạng đấy…” Đúng là phải cẩn thận, song thái độ “nghi ngờ nhưng không phủ nhận” mới là thái độ khoa học chân chính (tin hết hay phủ nhận hết đều không đúng). Mỗi chúng ta ai cũng có bộ óc, có trái tim, và nếu đã bị “lừa” sau bao năm trên ghế nhà trường rồi, ra thế giới thông tin toàn cầu này không ai muốn lại bị lừa lần nữa. Sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn hẹp là điều hiển nhiên ở tất cả mọi người nên mới có chuyện phải học hỏi trau dồi thêm. Nhưng mình phải tự chịu trách nhiệm về những gì mình tin, nói và viết. Bộ máy tuyên truyền của nhà nước, của các phe phái này nọ cũng chỉ chiếm một phần trong những thông tin mà mình đọc hàng ngày, vậy càng không thể đổ lỗi cho ai đã gây ra sự hiểu biết sai lệch trong mình được.

Nguồn thông tin hàng ngày mà tôi ưa thích đến từ anhbasam.com và boxitvn.net. Ngoài ra là nhiều blog khác nữa. Blog nào viết bằng sự trung thực, giá trị thông tin cao thì ắt sẽ nhiều bạn đọc yêu mến (đất lành chim đậu mà). Diễn đàn x-cafe là nơi rèn luyện khả năng tỉnh táo khi đọc thông tin. Quả là có rất nhiều người vào làm nhiễu thông tin cần truyền đạt, cài thông tin theo mục đích riêng. Nhưng nhờ những khám phá tinh tế và những cú “đập cho tới số” của các thành viên khác, mọi sự đểu giả đều bị phơi bày. Đây là môi trường rèn luyện cho tất cả các bên. Tất cả đều phải học những cách viết thâm thúy hơn, bớt kiểu nói lấy được đi, khách quan hơn và lý luận hơn mới có thể thuyết phục được người nghe. Khi ấy nếu muốn “mị dân” mới có khả năng mị, còn chưa viết đã coi thường người đọc rồi thì còn khuya.

Tôi thích học được cách quan sát, nhận xét cuộc sống có chiều sâu. Ngoài việc đọc thêm các bài viết, cuốn sách có giá trị thì viết blog là  một cách rèn luyện rất tốt khả năng tư duy. Tất nhiên tôi cũng không ngoài mục đích “xả stress” nhưng xa hơn, tôi muốn học được cách viết (tức cách nghĩ) khách quan, giàu thông tin và đại khái là có IQ… cao cao một tí. Viết đành rằng cho riêng mình, nhưng nếu ai đó đọc đến mà không cảm thấy quá phí thời gian một cách vô ích thì người viết cũng sẽ có thêm niềm vui.

Xin chào các bạn đã đọc bài viết đầu tiên của tôi.

Vừng ơi, mở ra! Cánh cửa thông tin đã mở, kho báu này liệu có sánh ngang với kho báu mà Alibaba xưa kia từng thấy?

Hà Hữu Nguyên

Posted in Uncategorized | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.